Điều 331. Người có quyền kháng cáo 1. Bị cáo, bị hại, người đại diện của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm. 2. Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà mình bào chữa. 3. Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại. 4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ. 5. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ. 6. Người được Tòa án tuyên không có tội có quyền kháng cáo về các căn cứ mà bản án sơ thẩm đã xác định là họ không có tội.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 331. Quyền kháng cáo
Điều 333. Thời hạn kháng cáo
Phân tích, ví dụ
Điều 331 xác định chủ thể có quyền kháng cáo; Điều 333 ấn định mốc thời gian. Hai điều gắn kết: đúng chủ thể nhưng quá hạn thì kháng cáo không hợp lệ, trừ trường hợp bất khả kháng.
Ví dụ: A bị tuyên 3 năm tù ngày 01/3. A kháng cáo ngày 20/3 — quá 15 ngày, không hợp lệ. Ngược lại, bị hại vắng mặt, nhận bản án ngày 10/3, kháng cáo ngày 20/3 — còn hạn.
Lưu ý: Điều 332 quy định nội dung đơn kháng cáo. Kháng cáo phải gửi Tòa án đã xử sơ thẩm (Điều 334).
Theo Điều 331 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (VBHN 17/2026/VBHN-VPQH), chủ thể có quyền kháng cáo bản án hình sự gồm:
Ngoài ra, Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án (Điều 336 BLTTHS 2015). Người kháng cáo phải làm đơn theo Điều 332 và gửi trong thời hạn quy định tại Điều 333: 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo tại phiên tòa; 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án đối với bị cáo vắng mặt; 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị hại, đương sự có mặt; 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết đối với người vắng mặt.
Ví dụ thực tiễn: A bị tuyên 3 năm tù về tội trộm cắp tài sản; bị hại B không đồng ý mức hình phạt, làm đơn kháng cáo trong 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu B vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn tính từ ngày B nhận được bản án. Quá hạn, đơn kháng cáo bị coi là không hợp lệ, trừ trường hợp có lý do chính đáng theo Điều 334.
Căn cứ: Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (VBHN 17/2026/VBHN-VPQH).
Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm: 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Thời hạn kháng cáo quyết định sơ thẩm: 07 ngày kể từ ngày tuyên quyết định. Trường hợp người có quyền kháng cáo vắng mặt, tính từ ngày họ nhận được quyết định hoặc ngày niêm yết.
Phân tích: Thời hạn kháng cáo là thời hiệu tố tụng — hết hạn, quyền kháng cáo mất hiệu lực, bản án/quyết định có hiệu lực pháp luật. Điểm mấu chốt: mốc khởi tính khác nhau giữa người có mặt và người vắng mặt tại phiên tòa. Điều này bảo đảm quyền kháng cáo (Điều 331) không bị tước đoạt vì lý do khách quan.
Ví dụ thực tiễn: Bị cáo A vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm ngày 01/3, nhận bản án ngày 10/3. Thời hạn kháng cáo của A tính từ 10/3, kết thúc ngày 25/3. Ngược lại, bị cáo B có mặt tại phiên tòa cùng ngày 01/3 thì thời hạn kết thúc ngày 16/3. Nếu A nộp đơn ngày 20/3, đơn vẫn hợp lệ; nếu B nộp ngày 20/3, đơn quá hạn.
Lưu ý thực tiễn: Đơn kháng cáo phải làm theo Điều 332 (nội dung, người gửi, chữ ký). Ngày xác định thời hạn căn cứ dấu bưu chính (nếu gửi qua bưu điện) hoặc ngày cơ quan nhận được (nếu nộp trực tiếp). Trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, thời hạn có thể được xem xét theo quy định chung về thời hiệu tố tụng.
Hệ quả: Kháng cáo trong hạn làm phát sinh thủ tục phúc thẩm. Quá hạn, bản án sơ thẩm có hiệu lực, không còn kháng cáo theo thủ tục thông thường.
Căn cứ: Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (VBHN 17/2026/VBHN-VPQH).
Điều 333 quy định thời hạn kháng cáo:
Cách xác định ngày bắt đầu: Ngày tuyên án (hoặc ngày nhận/niêm yết) không tính vào thời hạn; ngày tiếp theo là ngày đầu tiên. Ngày cuối cùng là ngày thứ 15 (bản án) hoặc thứ 07 (quyết định).
Ngày cuối cùng trùng ngày nghỉ: Nếu ngày cuối cùng rơi vào ngày nghỉ theo quy định (thứ Bảy, Chủ nhật, ngày lễ), thời hạn kéo dài đến ngày làm việc tiếp theo. Đây là nguyên tắc chung về tính thời hạn tố tụng.
Ví dụ: Tòa tuyên án sơ thẩm ngày 01/4/2026 (thứ Tư). Thời hạn kháng cáo 15 ngày. Ngày đầu: 02/4. Ngày cuối: 16/4/2026. Nếu 16/4 là ngày nghỉ, hạn chót chuyển sang ngày làm việc kế tiếp.
Trường hợp vắng mặt: Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa, nhận bản án ngày 05/4/2026. Thời hạn 15 ngày tính từ 06/4, hết ngày 20/4/2026.
Lưu ý thực tiễn: Người kháng cáo phải nộp đơn theo Điều 332 trong thời hạn nêu trên. Kháng cáo quá hạn chỉ được chấp nhận nếu có lý do chính đáng theo quy định. Ngày xác định "tuyên án" là ngày Tòa công bố bản án tại phiên tòa, không phải ngày ghi trên bản án.
Kháng cáo quá hạn: kháng cáo sau khi hết thời hạn tại Điều 333. Người kháng cáo phải gửi kèm lý do chính đáng (ốm đau, thiên tai, công tác xa, không biết bản án...).
Thủ tục xem xét (Điều 335 BLTTHS 2015):
Ví dụ thực tiễn: Bị cáo A bị tuyên 3 năm tù ngày 10/3. Thời hạn kháng cáo 15 ngày, hết ngày 25/3. Ngày 28/3 A nộp đơn kháng cáo, trình bày bị tai nạn giao thông phải nhập viện từ 20-27/3, kèm giấy ra viện. Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng xem xét; lý do chính đáng được chấp nhận, vụ án được đưa ra xét xử phúc thẩm.
Lưu ý: Đơn kháng cáo quá hạn phải lập theo Điều 332 (nội dung, người kháng cáo ký tên). Không có lý do chính đáng hoặc lý do không được xác minh → Hội đồng không chấp nhận, bản án sơ thẩm có hiệu lực.
Việc xem xét kháng cáo quá hạn không làm phát sinh thủ tục tố tụng độc lập; đây là bước tiền tố tụng để xác định quyền kháng cáo tại Điều 331 còn được thực hiện hay không.
Đơn kháng cáo phải lập theo Điều 332 BLTTHS 2015. Người kháng cáo gửi đơn đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự nộp đơn; nếu vắng mặt tại phiên tòa thì 10 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết bản án (Điều 333).
Lưu ý quan trọng:
Ví dụ thực tiễn: Bị cáo A bị tuyên 3 năm tù về tội trộm cắp, cho rằng mức hình phạt nặng. A phải làm đơn kháng cáo trong 10 ngày kể từ ngày tuyên án, gửi Tòa án cấp sơ thẩm. Nếu A vắng mặt, thời hạn tính từ ngày A nhận được bản án. Đơn cần ghi rõ: "Kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị giảm nhẹ hình phạt" kèm chữ ký.
Nộp đơn đúng hạn, đúng chủ thể, đúng nội dung là điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý theo Điều 331, 332, 333 BLTTHS 2015.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm: