Điều 40. Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu 1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây: a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết; b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết; c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết; d) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết; đ) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết; e) Nếu tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi người sử dụng lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có tr
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Nguyên tắc chọn thẩm quyền theo Điều 40
Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (hợp nhất 12 văn bản) quy định nguyên tắc chọn thẩm quyền: nguyên đơn, người yêu cầu được quyền lựa chọn Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự khi pháp luật cho phép nhiều Tòa án cùng có thẩm quyền.
Cụ thể, khi tranh chấp thuộc thẩm quyền của nhiều Tòa án nhân dân cấp huyện, nguyên đơn quyết định khởi kiện tại Tòa án nào trong số đó. Ví dụ: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa bên mua tại quận A, bên bán tại quận B, nguyên đơn chọn khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận A hoặc quận B.
Nguyên tắc này thể hiện quyền tự do khởi kiện, tôn trọng ý chí của người yêu cầu. Tuy nhiên, quyền lựa chọn không áp dụng khi pháp luật quy định thẩm quyền theo đối tượng, theo cấp, theo lãnh thổ cố định. Việc chọn Tòa án không có thẩm quyền dẫn đến trả đơn, thông báo chọn lại Tòa án đúng thẩm quyền.
Việc thực hiện quyền lựa chọn Tòa án của nguyên đơn, người yêu cầu không phải là quyền tự do không bị giới hạn, mà chỉ được thực hiện khi đồng thời thỏa mãn hai điều kiện: (i) vụ việc rơi vào một trong các trường hợp quy định tại Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (sau đây gọi là BLTTDS); và (ii) việc lựa chọn được thể hiện đúng hình thức, đúng thời hạn.
Điều kiện thứ nhất: vụ việc thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 40 BLTTDS. Cụ thể:
Ngoài ra, quyền lựa chọn chỉ mở ra khi vụ án, việc đó không thuộc bí quyết, không phải là việc dân sự, không đang có thiệt lệnh vụ án; và các bên không thỏa thuận được một Tòa án cụ thể. Người bị đơn kiện, người có quyền lợi liên quan cũng có thể lựa chọn, nhưng việc lựa chọn phải dẫn đến sự thống nhất về Tòa án có thẩm quyền.
Điều kiện thứ hai: thực hiện trong thời gian và hình thức luật định. Theo khoản 2 Điều 40 BLTTDS, việc lựa chọn Tòa án phải được thực hiện trong thời gian từ ngày tiếp nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu cho đến ngày xét xử sơ thẩm vụ án, việc đó và phải được thể hiện trong đơn khởi kiện, đơn yêu cầu. Người yêu cầu không thực hiện quyền lựa chọn thì Tòa án tiếp nhận đơn giải quyết vụ án, việc đó có thẩm quyền sẽ thụ lý giải quyết.
Ví dụ thực tiễn: Trong vụ án đòi tài sản, hai bên có hợp đồng nhưng không ghi rõ nơi thỏa thuận giải quyết tranh chấp; nguyên đơn và người bị đơn kiện đều có hộ khẩu tại cùng một địa phương nhưng cư trú nơi làm việc ở hai tỉnh khác nhau. Khi đó, có căn cứ xác định Tòa án có thẩm quyền, các bên có thể lựa chọn Tòa án tại nơi có thẩm quyền theo thỏa thuận, trình bày tại đơn khởi kiện và đơn phản tố. Ngược lại, trong vụ án ly hôn, Tòa án cấp huyện và Tòa án cấp tỉnh đều có thẩm quyền theo điều kiện luật định; nếu nguyên đơn lựa chọn Tòa án cấp huyện và người bị đơn kiện không trở lại thì Tòa án cấp huyện có thẩm quyền thụ lý giải quyết.
Vi phạm các điều kiện trên, đặc biệt là lựa chọn Tòa án không thuộc thẩm quyền, Tòa án thụ lý sẽ tiến hành giải quyết theo quy định của Điều 35, Điều 40 BLTTDS; việc lựa chọn sai có thể dẫn đến hệ quả hủy kết quả tố tụng và phát sinh chi phí cho các bên.
Điều 40 BLTDS 2015 quy định nguyên tắc xác định thẩm quyền Tòa án theo lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu. Phạm vi lựa chọn bao gồm hai trường hợp cụ thể.
Thứ nhất, tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền nhiều Tòa án cấp huyện trở lên. Nguyên đơn được quyền lựa chọn khởi kiện tại Tòa án nơi người bị đơn cư trú, làm việc hoặc nơi có tài sản liên quan. Ví dụ: tranh chấp hợp đồng mua bán nhà giữa bên mua tại Hà Nội và bên bán tại TP.HCM, nguyên đơn có thể chọn Tòa án cấp huyện nơi bên bán cư trú hoặc nơi có nhà để khởi kiện.
Thứ hai, tranh chấp lao động, hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền nhiều Tòa án. Người yêu cầu được lựa chọn Tòa án nơi làm việc, nơi cư trú của mình hoặc của đối tác. Ví dụ: vợ chồng cư trú tại Hải Phòng nhưng làm việc tại Quảng Ninh, có thể chọn Tòa án nơi cư trú hoặc nơi làm việc để giải quyết ly hôn.
Việc lựa chọn phải thể hiện rõ trong đơn khởi kiện, đơn yêu cầu. Tòa án nhận đơn không thuộc thẩm quyền đã chọn phải trả lại đơn, hướng dẫn nộp đúng Tòa án có thẩm quyền.
Việc nguyên đơn, người yêu cầu có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự là một quyền tố tụng nhằm bảo đảm khả năng tiếp cận công lý, nhưng quyền này không phải là quyền tuyệt đối và việc lựa chọn đó đặt ra những hệ quả pháp lý cụ thể sau đây.
Ví dụ thực tiễn: người vợ tốt nghiệp ra khỏi nhà chồng, tốt chồng theo thẩm quyền của Tòa án nơi tốt chồng cư trú; người vợ có thể chọn Tòa án nơi mình cư trú nếu thuộc Tòa án cấp huyện có thẩm quyền. Nếu tốt chồng yêu cầu giải quyết vụ án dân sự theo thẩm quyền khác, việc xác định thẩm quyền sẽ do Tòa án đang thụ lý ra quyết định, và bản quyền lựa chọn của người vợ được tôn trọng ở mức độ luật cho phép.
Nhận xét: quyền lựa chọn thẩm quyền phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, không phải quyền lựa chọn tùy ý; hiểu sai sẽ dẫn đến chậm trễ thụ lý, thụ lý không thuộc thẩm quyền và ảnh hưởng quyền lợi của các bên.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.