Điều 179. Khởi tố bị can 1. Khi có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can. 2. Quyết định khởi tố bị can ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định; họ tên, chức vụ người ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, quốc tịch, dân tộc, tôn giáo, giới tính, chỗ ở, nghề nghiệp của bị can; bị can bị khởi tố về tội gì, theo điều, khoản nào của Bộ luật Hình sự; thời gian, địa điểm phạm tội và những tình tiết khác của tội phạm. Trường hợp bị can bị khởi tố về nhiều tội khác nhau thì quyết định khởi tố bị can phải ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng. 3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định khởi tố và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[106] để xét phê chuẩn. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn và gửi ngay cho Cơ quan điều tra. Trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu bổ sung, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can. 4. Trường hợp phát hiện có người đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 179 BLTTHS 2015 (được giữ nguyên trong VBHN 17/2026/VBHN-VPQH) quy định về khởi tố bị can, gồm các nội dung chính sau:
Phân tích: Điều 179 thể hiện nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án có hiệu lực; quyết định khởi tố bị can chỉ là bước xác định tư cách tố tụng, chưa phải kết luận về tội phạm. Việc giao quyết định và giải thích quyền theo Điều 60 BLTTHS 2015 nhằm bảo đảm quyền bào chữa ngay từ giai đoạn đầu tố tụng.
Ví dụ thực tiễn: Cơ quan CSĐT ra quyết định khởi tố bị can đối với ông A về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo Điều 174 BLHS 2015; quyết định được đọc cho ông A nghe, giải thích quyền theo Điều 60, ông A ký xác nhận; sau đó bị can được thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố theo Điều 180 BLTTHS 2015 khi hành vi bị khởi tố thay đổi.
Khởi tố bị can là gì
Khởi tố bị can là một trong những thủ tục quan trọng bậc nhất của quá trình tố tụng hình sự, mang ý nghĩa là mốc chuyển tiếp từ hoạt động điều tra tội phạm sang trạng thái xác lập tư cách pháp lý của người bị nghi ngờ đã thực hiện hành vi phạm tội. Theo Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khởi tố bị can là việc cơ quan có thẩm quyền đưa người vào tình trạng bị can.
Về bản chất, khởi tố bị cankhông phải là bản án kết tội hay kết luận người đó đã phạm tội, mà là một quyết định tố tụng mang tính phòng ngừa và bảo đảm thủ tụng: xác lập tư cách pháp lý của người đó để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Chính vì vậy, Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: bị can là người bị khởi tố về tội danh, được cơ quan tố tụng thông báo hoặc yêu cầu tham gia tố tụng hoặc do cơ quan có thẩm quyền khởi tố ra quyết định giữ người, tạm giam người hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm khác.
Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định khởi tố bị can được thực hiện khi có sự xuất hiện một trong ba căn cứ: (i) có số liệu, thông tin, tài liệu, bằng chứng hợp lý để nghi ngờ một người đã thực hiện tội phạm; (ii) có dấu hiệu tội phạm rõ rệt mà người đó thực hiện hoặc tham gia thực hiện; (iii) có dấu hiệu tội phạm rõ rệt và người đó chính là người phạm tội. Do đó, quyết định khởi tố bị can phải dựa trên bằng chứng thực tế, chứ không được dựa trên suy đoán hay nghi ngờ thiếu căn cứ.
Khởi tố bị can có những hệ quả pháp lý rõ rệt: người bị khởi tố từ thời điểm tổ chức điều tra có các quyền của bị can; cơ quan điều tra phải thông báo hoặc yêu cầu bị can có mặt theo quy định; bị can có quyền được thuê luật sư bảo vệ, quyền kêu oan, quyền khiếu nại với việc khởi tố. Cùng với đó, các biện pháp bảo đảm như tạm giữ người, tạm giam người chỉ được áp dụng đúng đối với bị can.
Ví dụ thực tiễn: Cơ quan điều tra của Công an nhân dân tổ chức điều tra vụ án trộm cắp tài sản, xác định có video ghi hình thể hiện một người đàn ông lấy điện thoại của nạn nhân tại quán cà phê. Khi đối chiếu đặc điểm nhận dạng với người bị tạm giữ và có thông tin người này đang ở trọ, thuộc trường hợp "có số liệu, thông tin, tài liệu, bằng chứng hợp lý để nghi ngờ một người đã thực hiện tội phạm". Bộ trưởng Công an nhân dân ra quyết định khởi tố bị can đối với người này, thay cho biện pháp tạm giữ người trước đó. Trái lại, chỉ có tin đồn trên mạng xã hội về việc một người "có vẻ" thực hiện hành vi phạm tội mà chưa có bất kỳ bằng chứng nào thì chưa đủ điều kiện khởi tố bị can.
Khởi tố bị can không phải là quyết định cuối cùng mà vẫn có thể được thay đổi, bổ sung để bảo đảm quá trình tố tụng đúng pháp luật. Nếu sau khi khởi tố, quá trình điều tra cho thấy không đủ căn cứ thì cơ quan điều tra phải kết thúc điều tra, ra quyết định bị can không phạm tội theo Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự. Ngược lại, khi có quyết định khởi tố về một số tội, căn cứ và tình tiết phát sinh, mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi khởi tố thì cơ quan tố tụng có thẩm quyền thực hiện việc thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can theo quy định tại Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự. Như vậy, khởi tố bị can vừa là biện pháp công cụ của cơ quan tố tụng để điều tra tội phạm, vừa là hình thức bảo vệ bản đảm bảo quyền con người của người bị nghi ngờ phạm tội, đòi hỏi phải căn cứ, đúng trình tự và đúng thẩm quyền.
Điều kiện khởi tố bị can được quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (văn bản hợp nhất 17/2026/VBHN-VPQH). Theo đó, khi có căn cứ xác định người nào đã thực hiện hành vi phạm tội thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can đối với người đó.
Điều kiện đầu tiên là đã xác định được người thực hiện hành vi phạm tội. Điều này đòi hỏi phải có cơ sở chứng minh hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi đó. Ví dụ: trong vụ án cướp tài sản, nếu chưa xác định được thủ phạm thì chưa thể khởi tố bị can, chỉ có thể ra quyết định tạm giữ người trong trường hợp khẩn cấp theo Điều 110 BLTTHS.
Điều kiện thứ hai là hành vi đó cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự. Cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định hành vi cụ thể thuộc cấu thành tội phạm nào, khung hình phạt nào.
Điều kiện thứ ba là thẩm quyền. Theo Điều 179, quyết định khởi tố bị can phải do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra: đối với tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra thì Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Cơ quan điều tra có thẩm quyền; đối với tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Viện kiểm sát thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Điều kiện thứ tư là thủ tục: quyết định khởi tố bị can phải được ghi rõ ngày, tháng, năm; họ tên, nghề nghiệp, nơi cư trú của bị can; hành vi phạm tội; điều khoản luật used để truy tố; quyền và nghĩa vụ của bị can. Quyết định phải được đọc cho bị can nghe và bị can phải ký tên vào quyết định. Nếu bị can từ chối ký thì phải ghi rõ lý do.
Điều 60 BLTTHS bổ sung rằng bị can là người bị khởi tố về tội phạm. Người bị khởi tố có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Điều 180 BLTTHS quy định về thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can: khi có căn cứ thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can thì người có thẩm quyền ra quyết định mới, quyết định cũ không còn hiệu lực.
Thực tiễn cho thấy, việc xác định điều kiện khởi tố bị can là bước then chốt bảo đảm không khởi tố oan người vô tội. Ví dụ: nếu chỉ có lời khai của nhân chứng mà chưa có vật chứng, tài liệu khác chứng minh, cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ khởi tố bị can, cần tiếp tục xác minh nguồn tin về tội phạm.
Nội dung quyết định khởi tố bị can theo Điều 179 BLTTHS 2015
Quyết định khởi tố bị can là văn bản pháp lý quan trọng, căn cứ để tiến hành điều tra, truy tố và xét xử. Theo Điều 179 BLTTHS 2015, quyết định khởi tố bị can phải nêu rõ các nội dung bắt buộu sau:
Phân tích: Quyết định khởi tố bị can phải cụ thể, chính xác, tránh nói chung chung. Tội phạm khởi tố phải khớp với danh mục tội trong Bộ luật Hình sự. Thông tin bị can phải đủ để xác định danh tính, tránh nhầm lẫn. Căn cứ pháp lý phải trích dẫn chính xác số điều, khoản, điều luật.
Ví dụ thực tiễn: Quyết định khởi tố bị can A về tội "Lừa đoạt tài sản" theo Điều 175 BLHS 2015, nêu rõ A lừa đoạt 500 triệu đồng của B tại ngân hàng X ngày 15/03/2024, căn cứ khoản 2 Điều 175 BLHS 2015 và Điều 179 BLTTHS 2015.
Thay đổi, bổ sung: Theo Điều 180 BLTTHS 2015, quyết định khởi tố bị can có thể thay đổi hoặc bổ sung khi phát hiện sai sót, bổ sung tình tiết mới, thay đổi danh mục tội phạm. Việc thay đổi, bổ sung phải tuân thủ thủ tục, thẩm quyền theo quy định.
Khởi tố bị can là quyết định của cơ quan điều tra, Viện KSND hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, xác định một người là bị can và buộc người đó chịu trách nhiệm hình sự về tội bị khởi tố (Điều 179 BLTTHS 2015). Khi quyết định này được ban hành, người bị khởi tố có tư cách bị can theo Điều 60 BLTTHS 2015 và đương nhiên phát sinh các quyền tố tụng sau:
Phân tích: các quyền này bảo đảm nguyên tắc tranh tụng, không buộc bị can phải tự buộc tội mình. Việc khởi tố chỉ tạo tư cách tố tụng, chưa phải phán quyết về trách nhiệm hình sự; trách nhiệm chỉ được xác định bằng bản án có hiệu lực pháp luật.
Ví dụ thực tiễn: ông A bị khởi tố về tội Cố ý gây thương tích theo Điều 134 BLHS. Tại buổi công bố quyết định khởi tố, ông A có quyền yêu cầu được giao bản sao quyết định, trình bày rằng thương tích do nạn nhân tự ngã, cung cấp clip camera an ninh và đề nghị thay đổi tội danh nếu tài liệu chứng minh hành vi không chủ đích. Nếu cơ quan điều tra vẫn giữ nguyên căn cứ, ông A có quyền khiếu nại hoặc yêu cầu thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố theo Điều 180.
Lưu ý: quyền của bị can phải được ghi nhận ngay tại thời điểm công bố quyết định khởi tố; việc không thông báo đầy đủ quyền theo Điều 60 là vi phạm thủ tục tố tụng, có thể bị kháng nghị, hủy bỏ quyết định liên quan.
Lưu ý về thời điểm khởi tố bị can
Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung) quy định cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cùng cấp có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can khi có căn cứ xác định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội. Thời điểm khởi tố bị can phải được xác định trên cơ sở kết quả điều tra ban đầu, không phải thời điểm phát hiện nguồn tin về tội phạm.
Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 xác định bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Do đó, chỉ được coi là bị can kể từ khi có quyết định khởi tố bị can hợp lệ. Trước thời điểm này, cá nhân liên quan chỉ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị tạm giữ hoặc người bị tố giác, kiến nghị khởi tố. Việc gọi người chưa bị khởi tố là "bị can" trong các văn bản tố tụng là trái quy định.
Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 cho phép thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can khi có căn cứ cho rằng quyết định khởi tố ban đầu không còn phù hợp. Ví dụ thực tiễn: sau khi khởi tố bị can về tội "Trộm cắp tài sản" theo Điều 173 Bộ luật Hình sự, nếu tài liệu điều tra xác định bị can có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay sau đó để chiếm đoạt tài sản, cơ quan điều tra phải ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố sang tội "Cướp tài sản" theo Điều 168 Bộ luật Hình sự. Thời điểm thay đổi quyết định khởi tố phải được ghi nhận rõ trong hồ sơ vụ án.
Một lưu ý quan trọng khác: quyết định khởi tố bị can phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành, trừ trường hợp khẩn cấp. Việc phê chuẩn bảo đảm tính hợp pháp của thời điểm khởi tố. Nếu quyết định khởi tố bị can được ban hành trước khi có đầy đủ căn cứ, quyết định đó có thể bị hủy bỏ, ảnh hưởng đến tiến độ và kết quả tố tụng.
Do đó, khi xác định thời điểm khởi tố bị can, cơ quan tiến hành tố tụng cần bảo đảm: (i) có căn cứ xác định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội; (ii) quyết định khởi tố được phê chuẩn bởi Viện kiểm sát cùng cấp; (iii) quyết định được tống đạt đúng quy định để bị can biết quyền và nghĩa vụ của mình theo Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.