Điều 144 BLTTHS 2015: Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 144 BLTTHS 2015: Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

hinh-su · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/10
Mục lục:
  1. Nội dung Điều 144 BLTTHS 2015
  2. Tố giác tội phạm là gì
  3. Tin báo về tội phạm
  4. Kiến nghị khởi tố
  5. Trách nhiệm tiếp nhận và xử lý (Điều 145, Điều 147)
  6. Quyền và nghĩa vụ của người tố giác
  7. Lưu ý khi áp dụng

1. Nội dung Điều 144 BLTTHS 2015

Điều 144 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (viết tắt “BLTTHS 2015”) đặt nền tảng cho cơ chế phát hiện tội phạm và điều tra tội phạm. Điều luật quy định bao nhiêu nhóm chủ thể có nghĩa vụ và quyền báo tin, tố giác về tội phạm; xác định nội dung cụ thể của tố giác tội phạm; quy định việc tiếp nhận, kiểm tra, phân loại tin báo, tố giác; và quy định kiến nghị khởi tố đối với một số chủ thể có nghĩa vụ báo tin nhưng chưa đủ căn cứ xác định tội phạm.

Có thể khái quát nội dung Điều 144 theo bốn nhóm: (i) quy định chung về tố giác tội phạm và tin báo về tội phạm; (ii) xác định tố giác tội phạm là việc người có thông tin về hành vi phạm tội báo cho cơ quan có thẩm quyền; (iii) quy định việc tiếp nhận, kiểm tra tin báo và tố giác; và (iv) quy định về kiến nghị khởi tố trong trường hợp cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ phòng, chống tội phạm phát hiện dấu hiệu tội phạm nhưng chưa đủ căn cứ khởi tố. Bản thân Điều 144 cũng là cơ sở để các chủ thể tố giác trong hồ sơ vụ án và trong tranh chấp dân sự, lao động, hành chính tham gia cung cấp thông tin.

Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố 1. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền. 2. Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng. 3. Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm. 4. Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản. 5. Người nào cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Người tố giác và người tiếp nhận tin báo cần lưu ý các điểm cấu thành quan trọng: (1) tố giác tội phạm là hành vi chủ động, được định nghĩa ngay tại khoản 1 Điều 144; (2) tin báo và tố giác khác nhau về tính chất và về mức độ “có dấu hiệu tội phạm”, “thông tin cụ thể”; (3) kiến nghị khởi tố là quyền của cơ quan phòng, chống tội phạm, không phải quyền của công dân; (4) mọi tin báo phải được trình bằng văn bản hoặc phương tiện điện tử.

2. Tố giác tội phạm là gì

Theo khoản 1 Điều 144 BLTTHS 2015, “Người có thông tin về hành vi phạm tội báo cho cơ quan có thẩm quyền thì được gọi là tố giác. Tố giác tội phạm là việc người có thông tin về hành vi phạm tội báo cho cơ quan có thẩm quyền.” Như vậy, về mặt cấu tạo, tố giác gồm ba thành tố: chủ thể là người có thông tin về hành vi phạm tội; nội dung là thông tin về hành vi phạm tội; và hành vi là báo cho cơ quan có thẩm quyền.

Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tố giác theo phạm vi, thẩm quyền được phân định tại Điều 147 (tố giác, tin báo thuộc thẩm quyền của Công an nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân) và tại Điều 145, 146. Đối với hành vi phạm tội xảy ra trong lĩnh vực của Bộ Công an, Thanh tra Chính pháp, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính hay các cơ quan khác, việc báo tin thực hiện với cơ quan thuộc lĩnh vực đó; sau khi tiếp nhận, cơ quan này chuyển tin báo cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự.

Điểm cần lưu ý: tố giác không yêu cầu người báo tin phải chứng minh, phải xác định đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, hay phải trực tiếp quan sát hành vi. Người tố giác chỉ cần có thông tin và báo cho cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, chất lượng và mức độ cụ thể của thông tin quyết định trực tiếp tới quyết định xử lý của cơ quan chức năng, đặc biệt khi thông tin đó chỉ là tin đồn, suy đoán hoặc mô tả hành vi không rõ ràng thì có thể dẫn đến không khởi tố vụ án.

Phân biệt với khái niệm “tố cáo”. Tố giác là báo cho cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước về hành vi phạm tội. Tố cáo theo nghĩa thường dùng là báo cho cơ quan quản lý nhà nước hoặc tổ chức xử lý hành vi vi phạm hành chính, vi phạm nội quy, bị xử lý kỷ luật. Trong thực tiễn, “tố cáo trần” là khái niệm mang tính xã hội, không phải khái niệm pháp lý chính thức; pháp luật hiện hành không sử dụng thuật ngữ này, do đó cần lưu ý khi sử dụng trong văn bản gửi cơ quan chức năng.

Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

4. Người phát hiện hành vi phạm tội nhưng không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này thì báo cho tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Khoản 4 Điều 144 nhấn mạnh rằng, ai cũng có thể báo tin về hành vi phạm tội. Việc báo tin của người phát hiện thuộc khoản 4 không mang tính bắt buộc, nhưng vẫn là hành vi được pháp luật bảo vệ và khuyến khích. Quy định này mở rộng cửa tiếp nhận thông tin cho cơ quan chức năng, đồng thời tạo cơ sở để xử lý các hành vi trả đũa, cố ý đưa tin sai lệch về tội phạm.

3. Tin báo về tội phạm

BLTTHS 2015 sử dụng hai khái niệm song song: “tố giác tội phạm” và “tin báo về hành vi phạm tội” (gọi tắt là tin báo về tội phạm). Sự khác biệt thể hiện rõ tại khoản 2, khoản 3 và khoản 6 Điều 144. Cụ thể:

  • Tin báo về hành vi phạm tội: là tin báo của các chủ thể có nghĩa vụ và quyền báo tin quy định tại khoản 2 (cán bộ, công chức có chức năng quản lý nhà nước; người đại diện, cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ phòng, chống tội phạm; người phụ trách quản lý, điều hành trợ giúp việc cho người có chức vụ quản lý tại doanh nghiệp, tổ chức; người giữ chức năng, nhiệm vụ trong các tổ chức được định nghĩa tại Điều 146) và khoản 3 (người tự giác, tự thú; người có quan hệ công sở, ruột gia, bạn bè, người thân thuộc, chủ, đơn vị với người phạm tội và biết rõ hành vi phạm tội).
  • Tố giác: là tin báo của người có thông tin về hành vi phạm tội nhưng không thuộc các chủ thể có nghĩa vụ báo tin tại khoản 2, khoản 3, hoặc là tin báo mà chủ thể đó không có dấu hiệu rõ ràng như nêu tại khoản 6.

Khoản 6 Điều 144 còn quy định điều kiện để coi là “thuộc trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm”, tức là hành vi báo tin của những chủ thể có nghĩa vụ, quyền báo tin sẽ không bị xử lý theo hướng kỷ luật hay trách nhiệm hành chính về việc tố giác. Cụ thể: (a) người báo tin không có mối quan hệ công sở, quan hệ ruột gia, bạn bè, người thân thuộc, chủ, đơn vị được biết với người bị tố giác mà vẫn có nghĩa vụ, quyền báo tin; hoặc (b) việc báo tin chỉ mang tính thông thường, không có dấu hiệu tội phạm hoặc không có thông tin cụ thể về hành vi phạm tội, không có thông tin về đặc điểm, thông tin tình tiết, dấu vết tội phạm và tên người phạm tội. Ngược lại, nếu chủ thể có nghĩa vụ báo tin lại viết thông tin sai sự thật, vu khống thì không thuộc trường hợp được bảo vệ này.

Hình thức của tin báo cũng được quy định rõ: tin báo về tội phạm phải được trình bằng văn bản hoặc bằng phương tiện điện tử; tin báo về hành vi phạm tội bằng lời nói phải được lập thành văn bản theo quy định tại Điều 147. Điều này được cơ quan tiếp nhận thực hiện đồng thời với thủ tục tiếp nhận theo Điều 145 — trường hợp tiếp nhận đồng thời xử lý việc bổ sung, làm rõ thông tin và xác minh kiện, bảo đảm tính chính thức của hồ sơ vụ án.

4. Kiến nghị khởi tố

Kiến nghị khởi tố là một trong những cơ chế quan trọng nhất trong giai đoạn tiền tố tụng, cho phép chuyển thông tin từ lực lượng phòng, chống tội phạm sang cho cơ quan điều tra, mang tính “khởi xướng” vụ án hình sự. Điều 144 BLTTHS 2015 quy định:

Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

7. Cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ phòng, chống tội phạm phát hiện dấu hiệu, thông tin về hành vi phạm tội thì có quyền và nghĩa vụ trong nước kiến nghị cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án, điều tra, truy bắt người phạm tội. Cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ phòng, chống tội phạm phát hiện dấu hiệu, thông tin về hành vi phạm tội mà không có căn cứ để kiến nghị khởi tố thì phải có văn bản gửi cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý. Nếu cơ quan, tổ chức trong nước khởi tố vụ án, điều tra, truy bắt người phạm tội thì có quyền và nghĩa vụ được bảo đảm như trong nước.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ phòng, chống tội phạm gồm Công an nhân dân, cơ quan thực hiện chức năng đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ phòng, chống tội phạm và các tổ chức khác. Khi phát hiện dấu hiệu, thông tin về hành vi phạm tội, các cơ quan này có quyền và nghĩa vụ kiến nghị cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án, điều tra, truy bắt người phạm tội. Trường hợp phát hiện dấu hiệu, thông tin mà không có căn cứ để kiến nghị khởi tố thì phải có văn bản gửi cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý — đây là quy định buộc chủ động, tránh tình trạng “chôn” thông tin hoặc bỏ sót dấu hiệu tội phạm.

Đối với tổ chức trong nước và nước ngoài, khối lượng tố giác và quyền được bảo đảm quy định tại Điều 150 BLTTHS 2015. Cần lưu ý phân biệt “kiến nghị khởi tố” với “yêu cầu khởi tố”: yêu cầu khởi tố là thẩm quyền của Viện Kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân thực hiện khi kiến nghị trong trường hợp điều tra chậm trễ, có căn cứ để khởi tố vụ án nhưng không khởi tố, hoặc cần khởi tố vụ án nhưng chưa đủ căn cứ xác minh, điều tra.

Điểm mới của BLTTHS 2015 so với BLTTHS 2004 là đã đưa nội dung kiến nghị khởi tố vào Điều 144, tạo thành một chuỗi quy định thống nhất về phát hiện tội phạm, kiến nghị khởi tố và tiếp nhận, xử lý tin báo. Điều này phù hợp với lý luận “tố giác là quyền của nhân dân, kiến nghị khởi tố là quyền của cơ quan phòng, chống tội phạm, khởi tố là quyền của cơ quan điều tra, điều tra vụ án theo nguyên tắc thụ lý của cơ quan có thẩm quyền”.

5. Trách nhiệm tiếp nhận và xử lý (Điều 145, Điều 147)

Tiếp nhận, kiểm tra, phân loại và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm là trách nhiệm bắt buộc của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Điều 145 BLTTHS 2015 quy định nguyên tắc tiếp nhận, kiểm tra, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm. Nguyên tắc nổi bật là: phải tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm; không tiếp nhận, bảo đảm danh tính, an toàn cho người tố giác; tiếp nhận đồng thời với xử lý việc làm rõ, bổ sung, xác minh kiện, bảo đảm tính chính thức. Với vụ án đã có dấu hiệu tội phạm, người tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm có thể tiến hành xác minh trước khi chuyển cho cơ quan điều tra, đồng thời lập hồ sơ vụ án và phối hợp với cơ quan điều tra.

Điều 145. Tiếp nhận, kiểm tra, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm

1. Cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ phòng, chống tội phạm và đơn vị thuộc Công an nhân dân chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và liên quan tiếp nhận, kiểm tra, phân loại, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm.

2. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và liên quan có trách nhiệm tiếp nhận, kiểm tra, phân loại và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền của mình. Tiếp nhận đồng thời với việc làm rõ, bổ sung, xác minh nội dung tin báo, bảo đảm tính chính thức của tin báo và chuyển tin báo đã được xác minh cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Điều 147 quy định về thời hạn tiếp nhận, kiểm tra, phân loại, xử lý và thẩm quyền xử lý tố giác, tin báo về tội phạm. Theo đó, Công an nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tiếp nhận, kiểm tra, phân loại và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm thuộc phạm vi thẩm quyền của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội ph

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp