Điều 4. Áp dụng Luật thương mại và pháp luật có liên quan 1. Hoạt động thương mại phải tuân theo Luật thương mại và pháp luật có liên quan. 3. Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp là cơ sở để các bên lựa chọn thủ tục phù hợp, bảo đảm tranh chấp được xử lý kịp thời, đúng thẩm quyền và không làm phát sinh xung đột về tố tụng.
1. Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên (Điều 4 BLTTDS 2015). Các bên có quyền tự nguyện thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp; thỏa thuận này được pháp luật công nhận và bảo vệ. Ví dụ: hợp đồng mua bán hàng hóa thường có điều khoản lựa chọn tòa án hoặc trọng tài thương mại; khi tranh chấp phát sinh, tòa án chỉ thụ lý nếu không có thỏa thuận trọng tài hợp lệ.
2. Nguyên tắc bảo đảm quyền khởi kiện, quyền và lợi ích hợp pháp (Điều 42 BLTTDS 2015). Cơ quan có thẩm quyền phải tạo điều kiện để đương sự thực hiện quyền khởi kiện; không được từ chối giải quyết khi đã có căn cứtiếp nhận. Trường hợp không thuộc thẩm quyền thì phải hướng dẫn chuyển đến cơ quan có thẩm quyền.
3. Nguyên tắc về người đại diện, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp (Điều 47 BLTTDS 2015). Người có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp đến tranh chấp có thể tự mình hoặc nhờ người đại diện tham gia tố tụng, bảo đảm tranh chấp được giải quyết trên cơ sở đầy đủ ý chí và lợi ích của các bên.
4. Nguyên tắc về thời hiệu, thời hạn (Điều 120 BLTTDS 2015). Việc khởi kiện phải trong thời hiệu do luật quy định; nếu hết thời hiệu thì mất quyền khởi kiện. Ví dụ: tranh chấp hợp đồng kinh doanh thương mại phải được khởi kiện trong thời hiệu theo quy định của Bộ luật Dân sự, nếu chậm thì tòa án không thụ lý.
Phân tích thực tiễn: Khi xảy ra tranh chấp, bên có lợi ích bị xâm phạm cần xác định (i) có thỏa thuận giải quyết tranh chấp trước không; (ii) tranh chấp thuộc thẩm quyền của tòa án, trọng tài hay cơ quan khác; (iii) còn thời hiệu khởi kiện không. Việc lựa chọn đúng phương tiện giải quyết tranh chấp giúp tiết kiệm thời gian, chi phí và bảo đảm hiệu lực thi hành của quyết định, bản án.
Biện pháp bảo toàn là công cụ pháp lý quan trọng đảm bảo thi hành án, bảo vệ quyền lợi chính đáng của đương sự. Theo Điều 4 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (92/2015/QH13), Tòa án có trách nhiệm áp dụng biện pháp bảo toàn khi cần thiết để ngăn chặn hành vi vi phạm hoặc đảm bảo cho việc giải quyết vụ án.
Căn cứ Điều 42, biện pháp bảo toàn bao gồm: phong tỏa, kê biên tài sản; tạm giữ tài sản, tiền; cấm chuyển dịch quyền; cấm hoặc buộc thực hiện một số việc. Tòa án chỉ áp dụng khi có đủ căn cứ cho thấy nếu không áp dụng sẽ gây khó khăn hoặc không thể thi hành án.
Điều 47 quy định trình tự xử lý yêu cầu bảo toàn. Bên yêu cầu phải nộp đơn kèm chứng cứ chứng minh tính cấp thiết. Tòa án xem xét, ra quyết định trong thời hạn 48 giờ kể từ khi nhận đơn. Ví dụ: trong tranh chấp hợp đồng bán nhà, nếu bên mua phát hiện bên bán đang giao dịch chuyển nhượng nhà cho bên thứ ba, có thể yêu cầu Tòa án kê biên tài sản để đảm bảo thi hành án sau này.
Điều 120 quy định về bảo lãnh thay thế biện pháp bảo toàn. Bên bị yêu cầu có thề nộp tiền đặt cọc hoặc cung cấp bảo lãnh tài chính để thay thế việc bị hạn chế quyền sử dụng tài sản. Điều này cân bằng lợi ích giữa hai đương sự, tránh lạm dụng biện pháp bảo toàn gây thiệt hại không đáng có.
Việc áp dụng biện pháp bảo toàn đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng giữa tính hiệu quả thực thi và quyền tự do kinh doanh của các bên, đảm bảo tuân thủ nguyên tắc tố tụng dân sự.
Áp dụng biện pháp tạm thời là biện pháp tố tụng nhằm bảo đảm tính khả thi của việc thi hành án hoặc thực hiện quyền của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp, được quy định tại Điều 120 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
1. Điều kiện và chủ thể yêu cầu
Điều 120 quy định tối đa ba nhóm biện pháp tạm thời: i) cấm chuyển nhượng tài sản, tẩy xóa, thay đổi tình trạng tài sản nhằm mục đích che giấu tài sản, thu hồi, đánh đổi, tiêu thụ tài sản hoặc thực hiện giao dịch tài sản, bao gồm việc thay đổi, phân bổ quyền sử dụng, thu khoản tài khoản, chi tiêu tài khoản; ii) cấm thay đổi tình trạng tài sản, cấm chuyển nhượng, phân bổ quyền sử dụng, thu khoản tài khoản của tài khoản tại các tổ chức tín dụng; iii) áp dụng biện pháp thu hồi, thay đổi đăng ký tài sản, khoản tiền, tín dụng, tài sản gửi vào tài khoản của các tổ chức tín dụng, chuyển tiền trả cho bên khác; cùng biện pháp khác theo quy định của quy chế tố tụng dân sự.
Điều 120 cũng quy định về nội dung rút yêu cầu và nghĩa vụ của Tòa án: bên yêu cầu phải chỉ rõ loại biện pháp, số lượng, giá trị tài sản và chứng cứ chứng minh thiệt hại, tình trạng tài sản; nếu không chỉ rõ thì Tòa không chấp nhận yêu cầu, việc rút yêu cầu không có nghĩa là vụ án bị dừng giải quyết. Biện pháp tạm thời chỉ áp dụng trong quá trình tố tụng và khi có căn cứ hợp lý cho rằng việc thi hành án chậm trễ gây khó khăn cho bên yêu cầu hoặc thiệt hại không thể khắc phục. Tòa án phải giải quyết yêu cầu trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu; có tranh chấp thì phải mở phiên xét xử và xét đơn trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày mở phiên; có quyết định tạm thời giao nghĩa vụ đặt tài sản, bảo đảm.
2. Thẩm quyền và tính chất của việc áp dụng
Theo Điều 4 và Điều 47 Bộ luật Tố tụng dân sự, việc giải quyết các việc tố tụng thuộc thẩm quyền của cơ quan tố tụng, bảo đảm tính độc lập, khách quan, không phân biệt đối tượng và bảo đảm quyền được bảo vệ trong quá trình tố tụng. Tòa đã có quyết định xét xử sơ thẩm hoặc quyết định tố tụng của cấp cao hơn thì khi thấy có đủ căn cứ, Tòa có thể áp dụng hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm thời đã áp dụng. Căn cứ thẩm quyền theo Điều 42, các vụ việc về biện pháp tạm thời thuộc Tòa án nơi thụ lý vụ việc đang được giải quyết hoặc nơi có biện pháp tạm thời cần áp dụng. Thẩm quyền của Tòa chỉ xác định khi có dữ kiện hợp lý về việc các bên có tranh chấp, phát sinh việc tranh chấp hay không thuộc thẩm quyền của Tòa nào.
3. Ví dụ thực tiến
Tranh chấp về khoản tiền gửi giữa bên mua và chủ tài khoản: chủ tài khoản có dấu hiệu chuyển tiền sang tài khoản khác để né tránh nghĩa vụ thu hồi. Bên mua nộp đơn yêu cầu áp dụng biện pháp thu hồi, thay đổi đăng ký khoản tiền tại tổ chức tín dụng theo Điều 120. Nếu yêu cầu có căn cứ hợp lý, Tòa áp dụng biện pháp tạm thời và giao nghĩa vụ cho ngân hàng thực hiện; ngân hàng vẫn được cơ quan thi hành án cung cấp tiền trong trường hợp thuộc diện bảo đảm theo quy định pháp luật. Đây là biện pháp bảo đảm, không phải cơ chế giải quyết tranh chấp; khi hết thời gian áp dụng mà bên yêu cầu không thụ hưởng kết quả, Tòa quyết định hủy bỏ biện pháp tạm thời. Thực tiễn cho thấy việc chỉ rõ rõ ràng loại biện pháp, tài sản và chứng cứ là yêu cầu tiên quyết để đơn được chấp nhận, tránh lãng phí thời gian tố tụng.
Thẩm quyền của trọng tài thương mại được xác định trên cơ sở thỏ thuận trọng tài và phạm vi tranh chấp mà các bên đã thỏa thuận, không phụ thuộc vào nơi cư trú, quốc tịch hoặc nơi có tài sản của các bên.
Ví dụ thực tiễn: Hai doanh nghiệp ký hợp đồng mua bán hàng hóa có điều khoản trọng tài (ví dụ: Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam - VIAC). Khi phát sinh tranh chấp về chất lượng hàng hóa, một bên khởi kiện ra tòa. Tòa án áp dụng Điều 120 BLTTDS 2015 để không thụ lý vụ án, vì các bên đã có thỏa thuận trọng tài hợp lệ. Tranh chấp được giải quyết tại trọng tài thương mại theo thỏa thuận.
Lưu ý: Thỏa thuận trọng tài vô hiệu nếu đối tượng tranh chấp không thuộc phạm vi giải quyết của trọng tài (ví dụ: tranh chấp về hôn nhân, gia đình, lao động, hành chính, phá sản). Trọng tài chỉ có thẩm quyền đối với tranh chấp phát sinh từ quan hệ thương mại.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.