Điều 208. Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 1. Thẩm phán tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự. Trước khi tiến hành phiên họp, Thẩm phán phải thông báo cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp. 2. Trường hợp vụ án dân sự không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này thì Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải. 3. Đối với vụ án hôn nhân và gia đình liên quan đến người chưa thành niên, trước khi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự thì Thẩm phán, Thẩm tra viên được Chánh án Tòa án phân công phải thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp. Khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán có thể tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh tranh chấp và nguyện vọng của vợ, chồng, con có liên quan đến vụ án. Đối với vụ án tranh chấp về nuôi con khi ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Thẩm phán phải lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên, trường hợp cần thiết có thể mời đại diện cơ quan
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Thông báo về phiên họp là văn bản Tòa án lập để triệu tập các bên, người tiến hành tố tụng và những người khác có liên quan dự phiên xét xử vụ án dân sự. Căn cứ Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thẩm quyền lập và ký thông báo thuộc Chánh ánh Tòa án; thông báo phải được gửi cho các bên trước thời hạn tối thiểu mười lăm ngày trước ngày mở phiên họp xét xử sơ thẩm và trước thời hạn tối thiểu bảy ngày trước ngày mở phiên họp xét xử phúc ánh, phải kèm theo các tài liệu mà các bên được quyền tiếp cận trong thời gian tố tụng.
Nội dung thông báo gồm: tên Tòa án xét xử; thời gian, địa điểm xét xử; tên vụ án, số thứ tự của vụ án; thành phần Hội đồng xét xử gồm thẩm phán, hai thẩm phân phụ trách; tên các bên, những người tiến hành tố tụng khác, cơ quan của các bên; những vấn đề được xét xử. Thông báo phải niêm yết tại Tòa án và công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án; trường hợp không gửi được thì niêm yết tại Tòa án và công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án được coi là đã gửi.
Vi phạm thông báo có thể làm chậm trễ tiến độ giải quyết vụ án dân sự, vụ án là căn cứ khiếu nại việc tiếp cận chứng cứ. Thực tiễn cho thấy nhiều vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán, dịch vụ được nâng lên phúc ánh chỉ vì bên bị kiện cho rằng Tòa án chưa triệu tập họp và tài liệu theo quy định Điều 208, Điều 209; Tòa cấp dưới phải giải trình, trong đó làm rõ việc gửi thông báo kèm tài liệu và niêm yết đúng quy định tại Điều 210.
Nếu sự kiện xét xử được tiến hành theo yêu cầu thì thời hạn gửi thông báo không áp dụng; nếu bên vắng mặt thì Tòa chỉ xét xử trong phạm vi nội dung thông báo đã gửi và các tài liệu đã công khai. Do đó, khi lập thông báo, Chánh ánh cần kiểm tra chặt chẽ thời hạn tối thiểu, đầy đủ thành phần Hội đồng xét xử và phạm vi nội dung xét xử để bảo đảm quyền tiếp cận chứng cứ và quyền trình bày ý kiến của các bên, tránh việc lập thông báo nhưng không bảo đảm khả năng tham dự phiên họp, giải quyết hòa giải trước khi đưa vụ án ra xét xử theo Điều 211.
Thành phần phiên họp theo Điều 209 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
Điều 209 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định thành phần phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải như sau:
Phân tích: Thành phần phiên họp phản ánh nguyên tắc tranh tụng tại Điều 15 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Việc bắt buộc có đại diện Viện kiểm sát tham dự bảo đảm kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự, đồng thời tạo cơ sở cho việc hoà giải thành được ghi nhận trong Biên bản phiên họp (Điều 210).
Ví dụ thực tiễn: Trong vụ tranh chấp hợp đồng vay tài sản, nếu bị đơn là cá nhân không đến phiên họp mà không có lý do chính đáng, Thẩm phán vẫn tiến hành kiểm tra chứng cứ. Ngược lại, nếu bị đơn cung cấp giấy chứng nhận nhập viện thì phiên họp bị hoãn. Trường hợp người làm chứng ở xa không thể đến, Thẩm phán có thể hỏi cung tại chỗ hoặc tại nơi cư trú theo Điều 224.
Lưu ý: Việc xác định đúng thành phần phiên họp là điều kiện để Biên bản phiên họp có giá trị chứng cứ theo Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Trình tự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải được quy định tại Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, được Tòa án tiến hành sau khi thụ lý vụ án và chuẩn bị xong việc giao nộp, tiếp cận chứng cứ theo Điều 208, Điều 209.
Trình tự cụ thể:
Ví dụ thực tiễn: Trong tranh chấp hợp đồng mua bán, nguyên đơn xuất trình hợp đồng và biên bản giao hàng; bị đơn phản tố với chứng từ thanh toán. Tại phiên họp, Tòa án yêu cầu bị đơn nộp bổ sung chứng từ còn thiếu trong 7 ngày, các bên tiếp cận toàn bộ hồ sơ, sau đó hoà giải thành về phần nợ còn lại, Tòa án công nhận thoả thuận.
Ý nghĩa: Tuân thủ trình tự Điều 210 bảo đảm quyền tiếp cận chứng cứ của đương sự, tạo cơ sở cho việc xét xử công bằng, khách quan và hạn chế kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
Biên bản phiên họp theo Điều 211 là văn bản bắt buộc ghi chép toàn bộ diễn biến phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải tại Tòa án. Căn cứ khoản 1 Điều 211 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Thẩm phán chủ trì phiên họp phải lập biên bản để ghi chép việc thỏa thuận hoặc không thỏa thuận của các bên về việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và kết quả hoà giải. Biên bản phải được các bên tham gia ký xác nhận, trong đó nêu rõ nội dung thỏa thuận (nếu có) hoặc lý do không thỏa thuận. Ví dụ: tại phiên họp, bên nguyên đơn đồng ý giao nộp bổ sung hợp đồng gốc trong 05 ngày làm việc, bên bị đơn đồng ý tiếp cận và công khai chứng cứ là sao kê ngân hàng; Thẩm phán ghi rõ thỏa thuận này vào biên bản theo quy định tại khoản 2 Điều 211. Trường hợp các bên không thỏa thuận, biên bản ghi nhận yêu cầu của từng bên và lý do từ chối, căn cứ khoản 3 Điều 211 để Tòa án tiến hành xét xử. Biên bản có giá trị pháp lý làm cơ sở để Tòa án ra phán quyết, đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch trong tố tụng dân sự theo quy định tại Điều 208, 209 và 210.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.