Điều 143 BLTTHS 2015: Căn cứ khởi tố vụ án hình sự | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 143 BLTTHS 2015: Căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Hình sự · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/10
Mục lục:
  1. Nội dung Điều 143 BLTTHS 2015
  2. Các căn cứ khởi tố vụ án hình sự
  3. Phát hiện dấu hiệu tội phạm
  4. Các nguồn thông tin về tội phạm
  5. Thẩm quyền khởi tố
  6. Lưu ý về căn cứ không khởi tố vụ án

Điều 143. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ: 1. Tố giác của cá nhân; 2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; 3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; 4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; 5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; 6. Người phạm tội tự thú.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Nội dung Điều 143 BLTTHS 2015

Căn cứ khởi tố vụ án hình sự là các điều kiện pháp lý để cơ quan có thẩm quyền quyết định mở cuộc điều tra, tức là chuyển tình trạng tố giác, tin báo về tội phạm thành vụ án hình sự. Theo Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự, việc khởi tố vụ án hình sự có ba căn cứ:

  • Có báo cáo của người bị hại hoặc của người khác đã báo cho cơ quan có thẩm quyền;
  • Có tin báo, báo cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân về tội phạm;
  • Có dấu hiệu về tội phạm mà cơ quan chức năng phát hiện.

Phân tích. Điểm mấu chốt của Điều 143 là quy định khởi tố vụ án hình sự là hành động pháp lý của cơ quan thẩm quyền, chứ không phải hệ quả tự động phát sinh từ tố giác hay tin báo. Cả ba căn cứ đều chỉ tạo nền tảng để cơ quan điều tra, Viện kiểm sát quyết định, mà không thay thế quyết định khởi tố. Cơ quan tiếp nhận tố giác, tin báo vẫn phải kiểm tra, xác minh và phân loại nguồn tin theo Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự; chỉ khi lưu chuyển đủ cơ sở thì mới chuyển để khởi tố.

Cần phân biệt rõ điều kiện thực chất của từng căn cứ: “báo cáo của người bị hại” xuất phát từ chủ thể bị xâm phạm; “tin báo, báo cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân” xuất phát từ bên thứ ba, đơn thuần không yêu cầu chứng minh tội phạm; “dấu hiệu về tội phạm” là thông tin do cơ quan chức năng tự phát hiện trong quá trình thực hiện chức năng. Cả ba đều chỉ là nguồn tin; mức độ phải kiểm chứng lại do cơ quan có thẩm quyền đánh giá.

Ví dụ thực tiến. Người bị hại trực tiếp đến Cơ quan điều tra báo bị trộm cắp tài sản: đây là căn cứ thứ nhất. Cơ quan bảo vệ an ninh phát hiện hiện trường có dấu hiệu đánh bạc: đây là căn cứ thứ ba. Người dân gọi đường dây nóng báo có đường dây mua bán trái phép: thuộc căn cứ thứ hai, nhưng thông tin này còn là tin do người ngoài cung cấp, không đủ để khởi tố ngay nếu chưa được kiểm chứng.

Ranh giới với Điều 157. Ngược lại, khi không có một trong ba căn cứ nêu trên, hoặc căn cứ có nhưng không đủ, cơ quan điều tra phải ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự theo Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự, thay vì để vụ án “treo” không có quyết định. Việc xác định đúng căn cứ khởi tố vừa là yêu cầu pháp lý, vừa là bảo đảm không oan người vô tội và không bỏ lọt tội phạm — mục tiêu được xác định tại Điều 2 Bộ luật Tố tụng hình sự.

2. Các căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung) quy định cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự khi có căn cứ xác định có dấu hiệu tội phạm. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự gồm:

  • Tố giác, tin báo về tội phạm được tiếp nhận theo Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Cơ quan, tổ chức, cá nhân báo về hành vi phạm tội; cơ quan có thẩm quyền xem xét, xác định có dấu hiệu tội phạm thì ra quyết định khởi tố.
  • Kết quả kiểm tra, xác minh ban đầu đối với nguồn tin về tội phạm. Ví dụ: tiếp nhận tin báo về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng, tổ chức xác minh, thu thập tài liệu, nếu có căn cứ xác định có dấu hiệu phạm tội thì khởi tố.
  • Khám xét, kiểm tra phát hiện dấu hiệu tội phạm trong trường hợp khẩn cấp.
  • Tố cáo của bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại về hành vi phạm tội.
  • Tin báo, tố giác của cơ quan, tổ chức được chuyển đến cơ quan có thẩm quyền.
  • Phát hiện của cơ quan, tổ chức trong khi thi hành nhiệm vụ, phát hiện dấu hiệu tội phạm.

Ví dụ thực tiễn: công an phường tiếp nhận tin báo về hành vi cố ý gây thương tích; sau khi xác minh, thu thập lời khai nhân chứng, giám định thương tích, cơ quan điều tra xác định có dấu hiệu tội phạm quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự, ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Ngược lại, Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định căn cứ không khởi tố vụ án hình sự, gồm: không có sự việc phạm tội; hành vi không cấu thành tội phạm; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không còn tuổi chịu trách nhiệm hình sự; thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự đã hết; người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự về cùng sự việc đó mà quyết định đó còn hiệu lực; vụ án đã được xét xử theo thủ tục sơ thẩm.

Việc xác định căn cứ khởi tố phải bảo đảm đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục; không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, đúng nguyên tắc suy đoán vô tội quy định tại Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

3. Phát hiện dấu hiệu tội phạm

Phát hiện dấu hiệu tội phạm là hoạt động mở đầu giai đoạn xem xét, giải quyết nguồn tin về tội phạm. Theo Điều 143 BLTTHS 2015, khi có căn cứ xác định có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu chưa đủ căn cứ nhưng còn lý do để xác định có dấu hiệu tội phạm thì tự kiểm tra, xem xét hoặc yêu cầu kiểm tra, xác minh để ra quyết định trưng cầu giám định, quyết định thuê chuyên gia, người có chuyên môn, kỹ năng hoặc quyết định xác minh tin báo, tố giác theo khoản 4 Điều 143.

Nguồn gốc của dấu hiệu tội phạm chủ yếu xuất hiện qua tố giác, tin báo về tội phạm, đơn khiếu nại, tin tức trên phương tiện thông tin đại chúng theo Điều 144 BLTTHS 2015. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tố giác, báo tin về tội phạm; mọi người có nghĩa vụ tố giác, báo tin về tội phạm. Trách nhiệm tiếp nhận, xử lý thuộc cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cùng cấp và các cơ quan có thẩm quyền khác theo phân công.

Ví dụ thực tiễn: sau khi nhận được tin báo về việc hàng hóa bị nghi làm giả tại một kho hàng, cơ quan điều tra tiến hành xác minh ban đầu, thu thập tài liệu, trưng cầu giám định để xác định hàng hóa có phải là hàng giả hay không. Kết quả giám định xác định hàng hóa không đạt tiêu chuẩn, có dấu hiệu giả mạo nguồn gốc xuất xứ; khi đó đã đủ căn cứ để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, vật tư dùng cho sản xuất kinh doanh hoặc các tội danh tương ứng theo Bộ luật Hình sự.

Ngược lại, theo Điều 157 BLTTHS 2015, không được khởi tố vụ án hình sự khi không có sự việc phạm tội; hành vi không cấu thành tội phạm; người có hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết; thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự đã hết; đã có quyết định miễn trách nhiệm hình sự của cơ quan có thẩm quyền hoặc vụ việc thuộc phạm vi giải quyết của cơ quan, tổ chức khác. Đây là tiền đề pháp lý quan trọng để bảo đảm nguyên tắc không khởi tố oan người vô tội.

4. Các nguồn thông tin về tội phạm

Các nguồn thông tin về tội phạm theo Điều 143 BLTTHS 2015 bao gồm: tố giác, tin báo về tội phạm (Điều 144), phát hiện của cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình thi hành nhiệm vụ, thông tin từ cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp. Điều 143 quy định căn cứ khởi tố khi có đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội, người phạm tội, không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự. Điều 157 quy định căn cứ không khởi tố khi không có tội phạm, hết thời hiệu, được miễn trách nhiệm, không đủ cơ sở khởi tố. Ví dụ: cơ quan cảnh sát nhận được đơn tố giác của nạn nhân về hành vi trộm cắp tài sản, kiểm tra xác minh có đủ cơ sở thì ra quyết định khởi tố. Nguồn thông tin phải được kiểm tra, xác minh trước khi khởi tố, tránh khởi tố oan, sai.

5. Thẩm quyền khởi tố

Việc khởi tố vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và cơ quan tư pháp theo Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Cụ thể, cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, cơ quan điều tra của Công an nhân dân và cơ quan điều tra của Tòa án nhân dân thực hiện khởi tố trong phạm vi thẩm quyền được giao. Viện kiểm sát nhân dân các cấp, Viện kiểm sát quân sự các cấp, Viện kiểm sát dân sự quân đội và Cơ quan điều tra của Tòa án nhân dân cũng thực hiện khởi tố trong phạm vi thẩm quyền của mình.

Quyền khởi tố chỉ được sử dụng khi có căn cứ theo quy định tại Điều 143, gồm: có dấu hiệu tội phạm; hành vi có dấu hiệu tội phạm và người bị nghi phạm thuộc diện bị bắt giữ, bắt khám xét hoặc tạm giữ theo quy định; hành vi có dấu hiệu tội phạm và người bị nghi phạm đã kêu gọi công dân hỗ trợ khi nêu tin có căn cứ để tổ chức khởi tố trừ các trường hợp quy định tại Điều 145 và Điều 146. Ngoài ra, các trường hợp quy định tại Điều 144 như tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân về tội phạm cũng là nguồn thông tin để khởi tố.

Về thẩm quyền theo lãnh thổ, điều 143 không quy định riêng mà còn phối hợp với Điều 145, Điều 146 và nguyên tắc chung tại Chương XVII. Khởi tố docơ quan điều tra tiến hành; khi khởi tố, cơ quan điều tra vẫn tiếp tục điều tra và cuối cùng phải kết luận vụ án, không kết luận thì xử lý theo Điều 157 (không khởi tố vụ án) và Điều 173 (kết luận vụ án).

Trong thực tiễn, Cơ quan điều tra của Công an nhân dân thường khởi tố các vụ án trộm cắp, đánh bạc, ma túy; Viện kiểm sát nhân dân cấp cao thường khởi tố các vụ án gây tai nạn giao thông nghiêm trọng, các vụ án trong lĩnh vực kinh tế mà có căn cứ khởi tố. Khi có căn cứ, Cơ quan điều tra thực hiện khởi tố và ra quyết định tố giác, thông báo cho bị can và Viện kiểm sát nơi công dân cư trú của bị can và Viện kiểm sát có thẩm quyền để giám sát việc khởi tố. Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm tra căn cứ khởi tố, nếu không có căn cứ thì yêu cầu cơ quan điều tra bổ sung hoặc chỉ thị khởi tố; căn cứ này là nội dung thẩm quyền giám sát của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố, thể hiện tính chất phổ biến giám sát của cơ quan kiểm sát.

6. Lưu ý về căn cứ không khởi tố vụ án

Lưu ý về căn cứ không khởi tố vụ án

Theo Điều 143 BLTTHS 2015, khi chưa có căn cứ khởi tố vụ án hình sự, cơ quan điều tra phải ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Đây là thủ tục bắt buộc, không được bỏ qua, vì mục tiêu của tố tụng hình sự là không làm oan người vô tội (Điều 2 BLTTHS 2015).

Căn cứ pháp lý: Điều 157 BLTTHS 2015 quy định các căn cứ không khởi tố, gồm: (1) không có sự việc phạm tội; (2) người có hành vi phạm tội đã chết; (3) thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đã hết; (4) không có căn cứ để xác định người bị buộc tội đã thực hiện hành vi phạm tội; (5) hành vi không cấu thành tội phạm; (6) người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; (7) người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự; (8) hành vi nguy hiểm cho xã hội do sự kiện bất ngờ gây ra; (9) hành vi nguy hiểm cho xã hội do phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết; (10) người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã có quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền.

Ví dụ thực tiễn: Cơ quan điều tra nhận được tin báo về hành vi cố ý gây thương tích nhưng sau khi xác minh, thương tích dưới 11% và không thuộc trường hợp quy định tại Điều 134 BLHS 2015, thì hành vi không cấu thành tội phạm → ra quyết định không khởi tố theo điểm c khoản 1 Điều 157 BLTTHS 2015.

Lưu ý quan trọng: Quyết định không khởi tố phải được công bố và giao cho người bị tố giác, kiến nghị trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày ra quyết định (Điều 158 BLTTHS 2015). Người bị tố giác có quyền khởi kiện vụ án hành chính hoặc khiếu nại quyết định này theo quy định pháp luật.

Điểm khác biệt: Không khởi tố vụ án (Điều 157) khác với trả hồ sơ (Điều 148) và đình chỉ điều tra (Điều 229) — mỗi thủ tục có căn cứ, trình tự riêng.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (VBHN 17/2026/VBHN-VPQH) - Điều 143 về căn cứ khởi tố vụ án hình sự
  • Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (VBHN 17/2026/VBHN-VPQH) - Điều 144 về tố giác, tin báo về tội phạm
  • Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 (VBHN 17/2026/VBHN-VPQH) - Điều 157 về căn cứ không khởi tố
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp