Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu | Công ty Luật Minh Bạch

Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu

hon-nhan · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/10
Mục lục:
  1. Các trường hợp thỏa thuận bị vô hiệu
  2. Hậu quả pháp lý của việc thỏa thuận bị vô hiệu
  3. Giải quyết tranh chấp phát sinh từ thỏa thuận bị vô hiệu
  4. Lưu ý khi lập thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng
  5. Lưu ý khi áp dụng

Trong đời sống vợ chồng, vợ chồng có quyền lựa chọn chế độ tài sản của mình bằng thỏa thuận nhằm bảo đảm công bằng, hòa thuận và phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Tuy nhiên, thỏa thuận về chế độ tài sản không phải lúc nào cũng tự động có hiệu lực pháp lý. Nếu thỏa thuận vi phạm các quy định của pháp luật hoặc làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người khác, thỏa thuận đó có thể bị vô hiệu, và việc vô hiệu sẽ kéo theo nhiều hệ quả nghiêm trọng về tài sản chung, tài sản riêng và các quan hệ pháp lý khác giữa vợ chồng.

Hiểu rõ các trường hợp thỏa thuận bị vô hiệu, hậu quả pháp lý cũng như cách thức yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu là điều cần thiết để vợ chồng chủ động bảo vệ quyền lợi của mình, đồng thời tránh các tranh chấp kéo dài và tốn kém.

Điều 50. Chế độ tài sản của vợ chồng

1. Vợ chồng có quyền thỏa thuận bằng văn bản về chế độ tài sản của vợ chồng.

2. Vợ chồng có thể thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng theo các cách sau:
a) Tài sản chung của vợ chồng được chia thành phần để bảo đảm điều kiện sinh hoạt cho mỗi bên và để nuôi dưỡng các con chung;
b) Tài sản chung của vợ chồng do một bên quản lý, sử dụng, tạo lập;
c) Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tài sản của mỗi bên đối với tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng của vợ chồng được chia thành phần; trường hợp không thể chia thành phần thì vợ chồng có thể thỏa thuận để một bên quản lý, sử dụng, tạo lập tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng, đồng thời thỏa thuận về việc hỗ trợ nhau trong sinh hoạt và việc phát sinh nghĩa vụ do ai thực hiện.

3. Thỏa thuận bằng văn bản về chế độ tài sản của vợ chồng có hiệu lực kể từ ngày lập văn bản, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác.

4. Việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của vợ chồng về tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng theo quy định của Điều 51, Điều 52, Điều 53, Điều 54, Điều 55, Điều 56 và Điều 57 của Luật này. Nếu hai bên có thỏa thuận bằng văn bản về chế độ tài sản của vợ chồng thì việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng theo quy định của thỏa thuận.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Các trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu

Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng là một giao dịch dân sự, vì vậy nó chịu sự điều chỉnh của các quy định chung về giao dịch tự do, tự nguyện, có năng lực, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội. Khi thỏa thuận đó vi phạm một trong các nguyên tắc này thì thỏa thuận bị vô hiệu.

Điều 122. Giao dịch vô hiệu

1. Giao dịch vô hiệu là giao dịch vi phạm một trong các căn cứ sau đây:
a) Do công dân không có năng lực hành vi dân sự thực hiện;
b) Do người không có quyền đại diện thực hiện nhưng việc đại diện được giao ký hợp pháp với người đại diện;
c) Do người thực hiện không hiểu rõ điều gì là nội dung của giao dịch;
d) Do người thực hiện không tự nguyện, do bị ép buộc hoặc lừa dối;
đ) Nội dung của giao dịch vi phạm quy định tại Điều 115 của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Giao dịch vô hiệu vẫn tồn tại cho đến khi Tòa án tuyên báo là vô hiệu hoặc đại diện của các bên tự nhận là vô hiệu.

3. Trường hợp các bên đã có giao dịch, công dân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khởi kiện Tòa án để tuyên bố giao dịch vô hiệu. Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu khi có căn cứ theo quy định tại Điều 125 của Luật này.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1.1. Thỏa thuận không đủ điều kiện hình thức

Theo khoản 1 Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình, vợ chồng chỉ có quyền thỏa thuận bằng văn bản về chế độ tài sản của vợ chồng. Do đó, thỏa thuận chỉ được nói trực tiếp, ghi âm hoặc thống nhất bằng tin nhắn, mạng xã hội, email không đápứng yêu cầu của văn bản thì không phát sinh chế độ tài sản theo thỏa thuận đó; khi đó, tài sản của vợ chồng vẫn được xác định theo chế độ tài sản chung quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.

1.2. Thỏa thuận do người không đủ năng lực hành vi dân sự thực hiện

Một bên vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự tại thời điểm ký kết thỏa thuận thì không có năng lực thực hiện giao dịch dân sự, kể cả giao dịch về chế độ tài sản vợ chồng. Trường hợp này, người đại diện của vợ chồng có thể ký kết thỏa thuận thay, nhưng cần xem xét các giới hạn theo quy định của Bộ luật Dân sự về giao dịch vì lợi ích của người bị mất năng lực hành vi dân sự chỉ được chấp nhận khi họ có năng lực tiếp nhận và thể hiện ý chí tự do.

1.3. Thỏa thuận thiếu tự nguyện, bị ép buộc hoặc bị lừa dối

Nếu một bên bị ép buộc, bị uy hiếp tinh thần, bị lừa dối về các nội dung quan trọng như tình trạng tài sản, giá trị tài sản, con số tiền cụ thể hoặc ý nghĩa pháp lý của thỏa thuận thì thỏa thuận bị vô hiệu. Cần lưu ý rằng khoản 2 Điều 115 Bộ luật Dân sự quy định bị lừa dối phải có chủ ý giấu những thông tin cóảnh hưởng đến sự tự nguyện của giao dịch, và phải do bên bị lừa dối thực hiện.

1.4. Nội dung thỏa thuận vi phạm điều cấm của pháp luật

Đây là căn cứ vô hiệu quan trọng nhất trong thực tế. Một số nội dung thỏa thuận mà vợ chồng thường lập vô hiệu về mặt pháp lý bao gồm: thỏa thuận tài sản chung của một bên rút ra sử dụng độc quyền nhằm mục đích vô hiệu nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung; thỏa thuận nhằm đầu tư, tặng tài sản cho tình nhân khác; thỏa thuận vô hiệu nghĩa vụ bảo đảm nghĩa vụ cấp dưỡng của con chung sau này; thỏa thuận vi phạm quyền của người thừa kế hoặc người khác.

1.5. Thỏa thuận không chia tài sản chung thành phần nhưng vẫn chiếm đoạt tài sản lớn trong khi không bảo đảm điều kiện sinh hoạt

Điểm a khoản 2 Điều 50 nhấn mạnh nguyên tắc tài sản chung được chia thành phần để bảo đảm điều kiện sinh hoạt cho mỗi bên và để nuôi dưỡng các con chung. Thỏa thuận chỉ nhằm để một bên nắm giữ toàn bộ tài sản lớn, trong khi bên kia không có tài sản nào và không được hỗ trợ gì, dễ dẫn đến việc vi phạm chế độ tài sản chung, gây mất cân đối và ảnh hưởng đến quyền lợi của con chung, thường bị Tòa án nhận thức là vô hiệu hoặc ít nhất là không công nhận, buộc phân chia lại theo thỏa thuận chung của vợ chồng.

1.6. Thỏa thuận về tài sản riêng, cộng dồn tài sản chung hoặc đưa tài sản riêng vào tài sản chung

Điểm c khoản 2 Điều 50 quy định việc quyền, nghĩa vụ tài sản của mỗi bên đối với tài sản chung và tài sản riêng được chia thành phần. Do đó, thỏa thuận đưa tài sản riêng của một bên vào tài sản chung, hoặc ngược lại đưa tài sản chung vào tài sản riêng của một bên, không phải là đối tượng mà Luật Hôn nhân và gia đình công nhận. Tài sản thuộc tài sản riêng của vợ hoặc chồng mà trở thành tài sản chung thì được xử lý theo quy định tại Điều 51 và Điều 52 Luật Hôn nhân và gia đình; tuy nhiên các tài sản này vẫn thuộc diện tài sản chung và trong thỏa thuận chế độ tài sản, việc phân chia tài sản phải được thực hiện tương ứng với thực tế tài sản chung.

2. Hậu quả pháp lý của việc thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu

Việc thỏa thuận bị vô hiệu không làm mất đi chế độ tài sản chung, mà kéo theo một loạt hệ quả về tài sản và nghĩa vụ giữa vợ chồng và con chung.

2.1. Các bên trở lại áp dụng chế độ tài sản chung

Khi thỏa thuận bị vô hiệu thì chế độ tài sản của vợ chồng trở lại được xác định theo quy định của chế độ tài sản chung tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình, trong đó phần tài sản chung được chia thành phần tương đối tương đương, phần do mỗi bên tự quản lý, sử dụng, tạo lập có nghĩa vụ đền bù nếu gây thiệt hại cho tài sản chung.

Điều 55. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ chồng cùng tạo lập, cùng phát sinh hoặc cùng thừa kế mà vợ chồng có thể thỏa thuận hoặc theo quy định của luật pháp được chia thành phần để bảo đảm điều kiện sinh hoạt cho mỗi bên và để nuôi dưỡng các con chung.

2. Tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
a) Tài sản do hai vợ chồng cùng tạo lập, cùng phát sinh hoặc cùng thừa kế;
b) Tài sản do một bên tạo lập, phát sinh nhưng được xác định là tài sản chung theo thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng;
c) Tiền lương, tiền lương, thưởng, tiền công và các khoản thu nhập khác từ việc làm của mỗi bên dù là của vợ hoặc của chồng; tiền thừa kế, tặng, quà biếu mà một bên nhận được và để làm tài sản chung của vợ chồng;
đ) Bộ phận, giá trị tài sản chung do một bên nhận được và để làm tài sản chung của vợ chồng;
đ) Tiền, tài sản do vợ chồng mua được nhờ vay, tiền tiết kiệm từ thu nhập chung;
e) Tài sản chung của vợ chồng do đầu tư, kinh doanh sinh lợi nhuận;
g) Thu nhập và tài sản phát sinh từ tài sản chung của vợ chồng;
h) Các khoản tài sản khác theo quy định của pháp luật.

3. Tài sản chung của vợ chồng trong những trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

2.2. Tài sản riêng của vợ chồng tiếp tục thuộc quyền sở hữu của mỗi bên

Nếu trong thỏa thuận bị vô hiệu có các nội dung điều chỉnh tài sản riêng thì các nội dung đó cũng mất hiệu lực, tài sản riêng trở lại thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng theo quy định của Điều 51, Điều 52 Luật Hôn nhân và gia đình. Các tài sản có tranh chấp trong thỏa thuận vô hiệu sẽ phải được xác định lại vị trí pháp lý, kể cả việc tài sản đã chuyển nhượng, tặng, chi tiêu, thế chấp trong thời gian thỏa thuận còn hiệu lực.

Điều 51. Tài sản riêng của vợ chồng

1. Tài sản riêng của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc của chồng, được xác định theo quy định của Luật này.

2. Tài sản riêng của vợ chồng bao gồm:
a) Tài sản do một bên sở hữu trước khi kết hôn hoặc do một bên được thừa kế, tặng, quà biếu trước khi kết hôn; tiền, tài sản do một bên nhận được trước khi kết hôn;
b) Bộ phận, giá trị tài sản riêng của vợ chồng có được nhờ công sức của vợ chồng trong thời gian chung sống;
c) Tài sản riêng được tặng cho mình hoặc được chia theo quy định của Luật này.

3. Tài sản riêng của vợ chồng trong những trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

2.3. Nghĩa vụ cấp dưỡng và nuôi dưỡng con chung không bị ảnh hưởng

Thỏa thuận bị vô hiệu không làm mất nghĩa vụ của vợ chồng đối với con chung. Việc bảo đảm điều kiện sinh hoạt cho mỗi bên và nuôi dưỡng con chung tiếp tục là yêu cầu bắt buộc theo chế độ tài sản chung. Các khoản chi tiêu cho con trong thời gian thỏa thuận bị vô hiệu không bị hoàn trả, nhưng phần đóng góp thực tế của mỗi bên vẫn cần được cân nhắc khi chia tài sản.

Điều 56. Nghĩa vụ bảo đảm có nghĩa trong sinh hoạt gia đình

1. Vợ chồng có nghĩa vụ bảo đảm cho nhau có điều kiện sinh hoạt tốt thiểu và không phải làm việc có hại cho sức khỏe của nhau.

2. Nghĩa vụ bảo đảm có nghĩa trong sinh hoạt gia đình được thực hiện như sau:
a) Vợ chồng có nghĩa vụ tự hỗ trợ nhau trong việc thực hiện các nghĩa vụ tài sản và các nghĩa vụ khác đối với vợ, chồng và con;
b) Vợ chồng có nghĩa vụ tán thành và tạo điều kiện cho vợ, chồng hoàn thành nghĩa vụ học tập, làm việc, chăm sóc con; khi một bên có khó khăn về tài chính thì bên kia có nghĩa vụ hỗ trợ;
c) Khi vợ chồng ly hôn, người có khó khăn về tài chính thì có quyền nhờ người khác hỗ trợ hoặc có nghĩa vụ được hỗ trợ nhằm tạo điều kiện cho vợ, chồng và con được bảo đảm có điều kiện sinh hoạt tốt thiểu.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

2.4. Tài sản chung phát sinh trong thời gian áp dụng thỏa thuận bị vô hiệu được xử lý theo thỏa thuận chung

Đây là vấn đề thường gây tranh chấp lớn nhất. Vì tài sản phát sinh trong thời gian thỏa thuận còn được coi là hiệu lực đều thuộc tài sản chung của vợ chồng, nên khi thỏa thuận bị tuyên vô hiệu, toàn bộ tài sản chung phát sinh trong thời gian đó được trở lại chia theo chế độ tài sản chung quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình, thường là tỷ lệ tương đối tương đương phần tài sản chung và phần đóng góp thực tế của mỗi bên.

Điều 57. Thỏa thuận về những việc khác liên quan đến quan hệ tài sản của vợ chồng

1. Vợ chồng có thể thỏa thuận bằng văn bản về các nội dung sau đây:
a) Những việc khác liên quan đến quyền, nghĩa vụ tài sản giữa vợ chồng, phát sinh từ quan hệ vợ chồng và tài sản chung của vợ chồng;
b) Cách phân chia tài sản riêng của vợ hoặc của chồng thuộc tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điểm b, điểm d khoản 2 Điều 52 của Luật này.

2. Thỏa thuận của vợ chồng về việc chia tài sản riêng của vợ hoặc của chồng thuộc tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực kể từ ngày thỏa thuận, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

3. Giải quyết tranh chấp phát sinh từ thỏa thuận về chế độ tài sản bị vô hiệu

3.1. Tự thương lượng và hòa giải

Trước khi khởi kiện, vợ chồng nên thương lượng lại chế độ tài sản và ký kết văn bản thỏa thuận mới. Đây là cách nhanh, chi phí thấp, bảo đảm tính ổn định và tránh công khai thông tin tài chính của gia đình. Thỏa thuận mới có thể được lập cho toàn bộ tài sản hoặc chỉ xác nhận lại phần không có tranh chấp.

3.2. Vụ án hôn nhân và gia đình tại Tòa án

Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thỏa thuận tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình. Khi tuyên vô hiệu thỏa thuận, Tòa án có trách nhiệm xác định rõ các tài sản thuộc diện tài sản chung, tài sản riêng, xem xét hoàn trả tài sản cho bên đã chuyển giao nhượng, phân chia phần tài sản chung và tính các khoản chi hợp lý phát sinh trong thời gian áp dụng thỏa thuận.

Điều 56. Tuyên vô hiệu thỏa thuận tài s

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp