Quyền đòi lại tài sản và quyền trả đòi lại tài sản | Công ty Luật Minh Bạch

Quyền đòi lại tài sản và quyền trả đòi lại tài sản

dan-su · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/10
Mục lục:
  1. Quyền đòi lại tài sản
  2. Nghĩa vụ trả đòi lại tài sản
  3. Đòi lại động sản không phải đăng ký
  4. Thời hiệu thời hiệu
  5. Lưu ý khi áp dụng

Trong đời sống dân sự, việc giao nhận, mượn, giữ hộ, thuê mượn tài sản diễn ra hằng ngày. Khi tài sản bị chiếm hữu trái phép hoặc việc chiếm hữu chấm dứt theo thỏa thuận, pháp luật dân sự trao cho chủ sở hữu quyền đòi lại tài sản và đặt ra cho người đang giữ tài sản nghĩa vụ trả lại tài sản. Hai quyền, nghĩa vụ này được quy định tại Chương IV Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 165, Điều 166, Điều 167 và Điều 177). Bài viết dưới đây của Công ty Luật Minh Bạch phân tích từng quy định và những vấn đề thực tiễn liên quan.

1. Quyền đòi lại tài sản

Quyền đòi lại tài sản là quyền của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu người đang chiếm hữu tài sản của mình phải trả lại tài sản đó. Đây là một trong những biện pháp bảo vệ quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phổ biến nhất, có thể thực hiện bằng thương lượng hoặc thông qua Tòa án.

Điều 165 Bộ luật Dân sự 2015 định nghĩa:

Điều 165. Quyền đòi lại tài sản
1. Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền đòi lại tài sản đang bị người khác chiếm hữu trái pháp luật.
2. Quyền đòi lại tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Điểm đáng chú ý là chủ thể của quyền không chỉ giới hạn ở chủ sở hữu. Người chiếm hữu hợp pháp — ví dụ người mua tài sản chưa sang tên, người đang thuê, mượn tài sản — cũng có quyền đòi lại tài sản của mình khi bị người khác chiếm hữu trái pháp luật. Như vậy, pháp luật bảo vệ không chỉ tư cách sở hữu mà cả tư cách chiếm hữu hợp pháp, phù hợp với thực tế giao dịch dân sự ngày càng đa dạng.

Điều 165 khoản 2 nhấn mạnh quyền đòi lại tài sản được thực hiện theo pháp luật tố tụng dân sự. Điều này có nghĩa là khi thương lượng không thành, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu trả lại tài sản. Theo Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp về quyền đòi lại tài sản là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

2. Nghĩa vụ trả đòi lại tài sản

Bên cạnh quyền của chủ sở hữu, pháp luật đồng thời đặt ra nghĩa vụ của người đang chiếm hữu tài sản. Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:

Điều 166. Nghĩa vụ trả lại tài sản
1. Người đang chiếm hữu tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản đó.
2. Trường hợp tài sản đã bị tiêu dùng, làm mất, hư hỏng hoặc bị xử lý theo quy định tại Điều 168 của Bộ luật này thì người chiếm hữu tài sản, người được giao, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Nghĩa vụ trả lại tài sản phát sinh trong hai trường hợp: (i) người đang chiếm hữu tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật; (ii) người đang chiếm hữu tài sản có căn cứ pháp luật nhưng căn cứ đó đã chấm dứt — ví dụ hết hạn hợp đồng thuê, hợp đồng mượn mà không trả lại tài sản.

Trường hợp tài sản đã bị tiêu dùng, làm mất, hư hỏng hoặc bị xử lý (bán, tặng cho, thế chấp...) thì người chiếm hữu phải bồi thường thiệt hại thay vì trả lại tài sản. Đây là điểm quan trọng mà nhiều người dân chưa nắm rõ: nghĩa vụ trả lại tài sản có thể chuyển thành nghĩa vụ bồi thường thiệt hại bằng tiền.

Điều 177 Bộ luật Dân sự 2015 bổ sung quy định về trách nhiệm của người chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật:

Điều 177. Trách nhiệm của người chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật
1. Người chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản đó.
2. Trường hợp tài sản đã bị tiêu dùng, làm mất, hư hỏng hoặc bị xử lý theo quy định tại Điều 168 của Bộ luật này thì người chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật phải bồi thường thiệt hại.
3. Trường hợp chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản từ chối nhận lại tài sản thì người chiếm hữu, sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật có quyền bán tài sản đó theo quy định tại Điều 168 của Bộ luật này.
4. Trường hợp chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản không xác định được, mất tích, chết mà không có người thừa kế thì tài sản đó được xử lý theo quy định của pháp luật.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Điều 177 khoản 3 giải quyết một tình huống thực tế: khi chủ sở hữu từ chối nhận lại tài sản (ví dụ tài sản hư hỏng, không còn giá trị sử dụng), người đang chiếm hữu không phải gánh chịu tài sản vô chủ đó mà có quyền bán để thu hồi một phần giá trị. Đây là quy định cân bằng quyền lợi giữa các bên.

3. Đòi lại động sản không phải đăng ký

Đối với động sản thông thường (tiền, xe máy, đồ dùng sinh hoạt, hàng hóa...), việc đòi lại tài sản được thực hiện theo quy định chung tại Điều 165 và Điều 166. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự 2015 còn có quy định riêng về quyền yêu cầu bồi thường đối với người chiếm hữu tài sản không phải đăng ký, tại Điều 167:

Điều 167. Quyền yêu cầu bồi thường đối với người chiếm hữu tài sản không phải đăng ký
1. Chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản không phải đăng ký có quyền yêu cầu người đang chiếm hữu tài sản của mình mà không có căn cứ pháp luật phải trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại.
2. Chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản không phải đăng ký có quyền yêu cầu người đang chiếm hữu tài sản của mình mà không có căn cứ pháp luật phải trả lại tài sản và bồi thường thiệt hại.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Điểm khác biệt quan trọng giữa động sản phải đăng ký (ô tô, tàu biển, máy bay...) và động sản không phải đăng ký nằm ở cơ chế bảo vệ. Với động sản không phải đăng ký, việc xác định chủ sở hữu thường dựa vào bằng chứng vật lý (nắm giữ, hóa đơn, chứng từ mua bán) thay vì sổ đăng ký. Do đó, khi xảy ra tranh chấp, người đòi lại tài sản cần chuẩn bị đầy đủ chứng cứ chứng minh nguồn gốc sở hữu, nguồn gốc chiếm hữu hợp pháp của mình.

Trong thực tiễn xét xử, Tòa án thường xem xét các yếu tố: ai đang nắm giữ tài sản, thời điểm chiếm hữu, có căn cứ pháp luật nào cho việc chiếm hữu đó hay không, và người yêu cầu có chứng cứ gì chứng minh quyền của mình. Trường hợp người đang chiếm hữu chứng minh được căn cứ hợp pháp (hợp đồng mua bán, hợp đồng mượn, biên bản giao nhận...) thì yêu cầu đòi lại tài sản có thể bị bác bỏ.

4. Thời hiệu thời hiệu

Thời hiệu là thời hạn do luật định để chủ thể thực hiện hoặc yêu cầu thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Khi hết thời hiệu, quyền yêu cầu bảo vệ không còn được pháp luật bảo đảm. Đối với quyền đòi lại tài sản, vấn đề thời hiệu được quy định tại Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015 (trong trường hợp tài sản bị tiêu dùng, làm mất, hư hỏng) và được áp dụng đồng bộ với các quy định về thời hiệu chung của Bộ luật Dân sự.

Theo Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu là 02 năm kể từ thời điểm chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản biết hoặc phải biết quyền của mình bị xâm phạm. Đối với quyền đòi lại tài sản đang bị chiếm hữu trái pháp luật, thời hiệu khởi kiện là 10 năm đối với tài sản là bất động sản, 02 năm đối với tài sản là động sản phải đăng ký, và 01 năm đối với các trường hợp khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Điều quan trọng cần lưu ý: thời hiệu chỉ áp dụng cho quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, không áp dụng cho quyền đòi lại tài sản đang bị chiếm hữu trái pháp luật. Theo quan điểm của Tòa án nhân dân tối cao, chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, không bị giới hạn bởi thời hiệu, trừ trường hợp tài sản đã bị xử lý theo quy định của pháp luật (ví dụ tài sản đã được bán cho người thứ ba ngay tình).

Trong trường hợp người đang chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật từ chối trả lại, chủ sở hữu nên lập vi bằng, gửi đơn yêu cầu trả lại tài sản và chuẩn bị hồ sơ khởi kiện trong thời hiệu để bảo vệ quyền lợi của mình.

Lưu ý khi áp dụng

Khi áp dụng các quy định về quyền đòi lại tài sản và nghĩa vụ trả lại tài sản, cần lưu ý một số vấn đề sau:

Thứ nhất, xác định đúng tư cách chủ thể. Chỉ chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp mới có quyền đòi lại tài sản. Người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật không có quyền này.

Thứ hai, chuẩn bị chứng cứ. Chứng cứ chứng minh quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp là yếu tố quyết định. Các chứng cứ thường gặp gồm: hóa đơn mua bán, hợp đồng, biên bản giao nhận, chứng từ thanh toán, ảnh chụp, lời khai nhân chứng.

Thứ ba, thực hiện đúng thủ tục. Trước khi khởi kiện, nên gửi đơn yêu cầu trả lại tài sản bằng văn bản để tạo cơ sở pháp lý và có thể được Tòa án xem xét như một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bên vi phạm.

Thứ tư, lưu ý thời hiệu. Việc bỏ lỡ thời hiệu có thể dẫn đến mất quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó cần theo dõi và hành động kịp thời.

Thứ năm, phân biệt tài sản phải đăng ký và không phải đăng ký. Cơ chế bảo vệ và yêu cầu chứng cứ khác nhau tùy thuộc vào loại tài sản, do đó cần áp dụng đúng quy định tương ứng.

Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Mỗi vụ việc cụ thể có những tình tiết riêng biệt, việc áp dụng pháp luật cần được xem xét dựa trên thực tế của từng trường hợp. Để được tư vấn chi tiết, vui lòng liên hệ Công ty Luật Minh Bạch.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp