Điều 119. Tạm giam
1. Tạm giam là biện pháp ngăn chặn hành vi phạm tội và chống trốn.
2. Người bị tạm giam phải bị giam giữ trong trại tạm giam.
3. Trại tạm giam trực thuộc cơ quan điều tra và có chức năng, nhiệm vụ giữ giam, quản lý, giám sát người bị tạm giam.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Căn cứ pháp lý chính của bài viết là Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 được hợp nhất tại văn bản VBHN 17/2026/VBHN-VPQH. Điều 119 quy định về tạm giam — một trong những biện pháp ngăn chặn chuyên nghiệp có tính chất cưỡng chế mạnh nhất, tác động trực tiếp tới quyền tự do của cá nhân. Trong bài viết này, Công ty Luật Minh Bạch phân tích cấu trúc của Điều 119, mối liên hệ giữa tạm giam với hệ thống biện pháp ngăn chặn tại Điều 109, thời hạn tạm giam điều tra theo Điều 173, đồng thời chỉ ra những quyền mà người bị tạm giam vẫn được bảo vệ theo pháp luật.
Điều 119 gồm ba khoản, thể hiện bốn ý nội dung: (1) bản chất pháp lý của tạm giam; (2) hình thức thực hiện; (3) nơi thực hiện; (4) tình trạng bắt buộc phải bị giam giữ khi đã được áp dụng tạm giam.
Nguyên văn điều luật:
Điều 119. Tạm giam
1. Tạm giam là biện pháp ngăn chặn hành vi phạm tội và chống trốn.
2. Người bị tạm giam phải bị giam giữ trong trại tạm giam.
3. Trại tạm giam trực thuộc cơ quan điều tra và có chức năng, nhiệm vụ giữ giam, quản lý, giám sát người bị tạm giam.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điểm đáng chú ý là tạm giam được luật định nghĩa với hai mục đích song hành: ngăn chặn hành vi phạm tội (phòng ngừa, tác động cải biến hành vi của bị can) và chống trốn (bảo đảm sự hiện diện của người bị can để phục vụ công tác điều tra, xét xử). Do đó, cơ quan thực hiện không được áp dụng tạm giam chỉ với lý do “cho an ninh” hay “phòng ngừa” chung chung, mà phải chứng minh được hai mục đích này trên cơ sở tình tiết vụ án cụ thể.
Khoản 2 xác định nơi thực hiện: trại tạm giam. Không phải mọi cơ sở giam giữ đều là nơi thực hiện tạm giam — nhà tạm giữ người tạm giữ (theo Nghị định 01/2018/NĐ-CP) chỉ dành cho người bị bắt giữ, không dành cho người bị tạm giam. Khoản 3 xác định trại tạm giam trực thuộc cơ quan điều tra, do đó quản lý trại tạm giam là nhiệm vụ của lực lượng công an và không thuộc Công ty Luật Minh Bạch cũng như không thuộc các cơ quan tư pháp khác. Người bị tạm giam có thể bị giữ tại nơi thuộc địa bàn xảy ra tội phạm hoặc nơi có điều kiện tiếp cận thuận lợi cho công tác điều tra theo quy định chuyên ngành.
Để hiểu đúng vị trí pháp lý của tạm giam, cần đặt nó trong hệ thống biện pháp ngăn chặn chính thức được quy định tại Điều 109 BLTTHS 2015. Theo đó, có tám biện pháp ngăn chặn được liệt kê, trong đó tạm giam là biện pháp cuối cùng trong thứ tự mức độ cưỡng chế tăng dần.
Điều 109. Các biện pháp ngăn chặn
1. Các biện pháp ngăn chặn bao gồm:
a) Cấm đi ra nước;
b) Cấm thay đổi đăng ký hộ tịch;
c) Tịnh thu tài sản;
d) Tạm giữ người phạm tội;
đ) Tịnh thu tài sản, tài sản, đăng ký biên tàu, tàu bay và giấy tờ có giá trị như tiền, chứng chỉ có giá trị như tiền thuộc sở hữu của người bị tạm giữ, phạm tội;
e) Kiểm tra nơi trú xá, nơi làm việc của người bị tạm giữ, phạm tội;
g) Thực hiện biện pháp ngăn chặn đối với người bị tạm giữ, phạm tội;
h) Tạm giam người bị tạm giữ, phạm tội.
2. Biện pháp ngăn chặn chỉ được áp dụng khi có căn cứ và điều kiện luật định tại các điều từ Điều 112 đến Điều 124 của Bộ luật này.
3. Biện pháp ngăn chặn do cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân hoặc cơ quan thực hiện án không ra lệnh.
4. Biện pháp ngăn chặn phải được áp dụng theo quyết định của bàn xét xử của cơ quan có thẩm quyền và sự giám sát của Viện Kiểm sát nhân dân theo quy định của Chương XXII này.
5. Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ, gia hạn biện pháp ngăn chặn, trong đó có việc tạm giam, thuộc thẩm quyền của bàn xét xử theo quy định của Chương XXII này.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Từ cấu trúc trên, có ba nhận xét thực tiễn:
Thứ nhất, nguyên tắc chung. Khoản 2 Điều 109 khẳng định chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn khi “có căn cứ và điều kiện luật định”. Đây là nguyên tắc không thể phá vỡ: thiếu một trong hai yếu tố thì quyết định tạm giam không có cơ sở pháp lý.
Thứ hai, tính chất bảo vệ kiểm sát. Khoản 4 và khoản 5 Điều 109 đặt biện pháp ngăn chặn dưới sự kiểm sát của Viện Kiểm sát nhân dân và quy định thẩm quyền thuộc về bàn xét xử. Nói cách khác, tạm giam không phải quyết định tùy ý của cơ quan điều tra mà là thẩm quyền của bàn xét xử. Có nơi thực tiễn, điều tra viên tự quyết định tạm giam rồi mới trình sau là trái thẩm quyền và vi phạm điều 119 cùng Điều 109.
Thứ ba, vị trí tạm giam trong thang đo cưỡng chế. Nếu xếp theo mức độ tổn hại tới quyền tự do, tạm giam nằm cao hơn hẳn các biện pháp tài sản (cấm thay đổi đăng ký hộ tịch, tịnh thu tài sản), và chỉ sau tạm giữ. Vì vậy, khi người bị can chỉ cần cung cấp tài sản, cam kết địa điểm cư trú hoặc nộp tờ cam đoan thì cơ quan chức năng không được chuyển sang tạm giam nếu không có lý do đặc biệt. Quy trình này được Điều 112 yêu cầu một cách chặt chẽ.
Điều kiện áp dụng tạm giam được quy định tại Điều 118 BLTTHS 2015, là điều khoản đi kèm và phụ thuộc Điều 119. Điều 118 xây dựng điều kiện theo mô hình tổng hợp gồm căn cứ bắt buộc và tiêu chí cân nhắc bổ sung.
Điều 118. Điều kiện áp dụng tạm giam
1. Tạm giam được áp dụng đối với người bị tạm giữ, phạm tội trong các trường hợp sau đây:
a) Người bị tạm giữ, phạm tội có dấu hiệu phạm tội và thuộc diện bắt giữ bắt buộc mà có lý do nghi ngờ nguy cơ trốn hoặc gây ảnh hưởng đến tiến hành công tác điều tra;
b) Đối với người bị bắt giữ về tội phạm nhỏ nhiều lần hoặc tội phạm ít nghiêm trọng mà có lý do nghi ngờ nguy cơ trốn hoặc gây ảnh hưởng đến tiến hành công tác điều tra;
c) Đối với người bị bắt giữ để điều tra về tội phạm và có tình tiết tăng nặng hoặc bỏ trốn trong trường hợp bị bắt giữ đã đến mức có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn khác thì chưa áp dụng được biện pháp đó mà vẫn cần phải tạm giam.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Lưu ý rằng điểm c Khoản 1 Điều 118 mang tính “dự phòng”: chỉ khi thực tế đã cố gắng áp dụng các biện pháp nhẹ hơn mà bất khả thi mới được tạm giam. Đây thể hiện nguyên tắc tạm giam như lựa chọn cuối cùng, phù hợp với tinh thần của Điều 12 Bộ luật Tố tụng Hình sự về việc áp dụng pháp luật hình sự.
Ngoài điều kiện theo Điều 118, Điều 117 vẫn phải tuân thủ. Đây là điều luật mang tính “tranh chấp” cao nhất trong vụ án hình sự và thường quyết định kết quả khiếu nại.
Điều 117. Tạm giữ người phạm tội
2. Việc tạm giữ người phạm tội chỉ thực hiện trong trường hợp cần thiết.
3. Việc tạm giữ người phạm tội không quá 48 giờ kể từ khi bắt giữ người phạm tội. Trước khi hết thời hạn tạm giữ nếu còn lý do cần thiết thì cơ quan điều tra được viết tờ trình lên bàn xét xử của Tòa án nhân dân cấp xét xử sơ thẩm nơi có thẩm quyền để xét; nếu không được chấp nhận thì phải thả người bị tạm giữ.
4. Đối với người bị tạm giữ thuộc diện tạm giữ người phạm tội vì lý do khác thì theo quy định của Điều 124 của Bộ luật này.
5. Không giữ người phạm tội trong trường hợp thuộc điều 20 và điều 21 của Bộ luật này.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Nguyên tắc cần thiết ở Khoản 2 Điều 117 và nguyên tắc “không giữ người phạm tội” ở Khoản 5 được vận dụng cho cả giai đoạn sau đó: nếu sau48 giờ mà không đủ căn cứ tạm giam thì phải thả người bị tạm giữ, không thể “kéo dài” qua một biện pháp ngăn chặn khác để bù đắp cho thiếu căn cứ tạm giam.
Ngoài ra, Điều 124 quy định về thời hạn tạm giữ để xét xử, cho phép tạm giữ người bị tạm giữ, phạm tội sau khi đã tạm giam đến hạn trong một số trường hợp, đồng thời yêu cầu các biện pháp này không kéo dài quá thời hạn tối đa mà luật định.
Không phải mọi người bị tạm giữ, phạm tội đều có thể bị tạm giam. Điều 119 khoản 2 xác định đối tượng là “người bị tạm giam”, còn Điều 118 xác định phạm vi áp dụng gồm ba nhóm: người thuộc diện bắt giữ bắt buộc; người bị bắt giữ về tội phạm nhỏ nhiều lần hoặc ít nghiêm trọng; và người bị bắt giữ có tình tiết tăng nặng, bỏ trốn.
Trong thực tiễn, các nhóm thường gặp gồm:
Nghi phạm bị bắt giữ trong vụ án trọng điểm, quốc tế. Với các vụ án có tính chất tổ chức tội phạm, rửa tiền, ma túy, mua bán người, các đối tượng bị bắt giữ thường bị đề xuất tạm giam ngay trong ngày đầu tiên.
Người phạm tội có dấu hiệu phạm tội thuộc diện bắt buộc nhưng đã có thời gian sống lưu luyện địa phương hoặc có dự đoán khó về nơi ở. Khi đã bị điều tra và chưa tạm giữ được hơn 24 giờ mà chưa áp dụng được tịnh thu tài sản, cơ quan điều tra thường chuyển sang đề nghị tạm giam.
Người bị tạm giữ để xét xử khi đã tạm giam hết thời hạn. Điều 124 cho phép chuyển từ tạm giam sang tạm giữ để xét xử khi vụ án chuyển qua giai đoạn xét xử, miễn là tổng thời gian tạm giam và tạm giữ không vượt quá giới hạn luật định.
Có một nhóm đối tượng mà luật đặt ra chế tộc nhất và cần đặc biệt lưu ý: phụ nữ mang thai, người bị bệnh nặng, người bị tổn thương nặng do tội phạm của chính mình gây ra, người thuộc lực lượng vũ trang... Trong các trường hợp này, mặc dù không tuyệt đối bị cấm tạm giam, nhưng việc cân nhắc tạm giam phải thận trọng hơn, vì mục đích của biện pháp này là bảo vệ quyền lợi và sức khỏe sinh thể của bị can, đồng thời bảo đảm hoạt động tố tụng.
Đối chiếu với Bộ luật Tố tụng Dân sự, các vụ án lao động, hôn nhân và gia đình có người chưa thành niên thì các quy định về tố tụng với người chưa thành niên của Điều 121 BLTTHS sẽ hạn chế đáng kể khả năng áp dụng tạm giam, bởi lẽ đây là biện pháp ngăn chặn “không dùng đối với người dưới 16 tuổi” nhằm bảo vệ lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên.
Thời hạn tạm giam là vấn đề người bị can quan tâm nhất, bởi nó quyết định trong bao lâu họ mất tự do trước khi được xét xử. Thời hạn được quy định tại Điều 173 BLTTHS 2015 theo từng giai đoạn tố tụng.
Điều 173. Thời hạn tạm giam để điều tra
1. Thời hạn tạm giam để điều tra không quá 02 tháng. Nếu việc điều tra chưa xong thì cơ quan điều tra được viết tờ trình lên bàn xét xử của Tòa án nhân dân cấp xét xử sơ thẩm nơi có thẩm quyền để xét gia hạn thời hạn tạm giam. Việc gia hạn thời hạn tạm giam được thực hiện không quá hai lần, mỗi lần không quá 02 tháng.
2. Khi hết thời hạn tạm giam mà chưa có căn cứ để gia hạn hoặc kết thúc điều tra, thì bàn xét xử của Tòa án nhân dân cấp xét xử sơ thẩm nơi có thẩm quyền quyết định giảm thời hạn tạm giam hoặc quyết định tiếp tục tạm giam trong thời gian không quá 03 tháng. Việc giảm thời hạn tạm giam thì không thời hạn gia hạn thời hạn tạm giam.
3. Việc gia hạn thời hạn tạm giam phải được viết tờ trình lên bàn xét xử của Tòa án nhân dân cấp xét xử sơ thẩm nơi có thẩm quyền để xét. Việc giảm thời hạn tạm giam, tiếp tục tạm giam, kết thúc tạm giam do bàn xét xử của Tòa án nhân dân cấp xét xử sơ thẩm nơi có thẩm quyền quyết định.
4. Thời hạn tạm giam đã hết thì bàn xét xử của Tòa án nhân dân cấp xét xử sơ thẩm nơi có thẩm quyền phải quyết định giảm thời hạn tạm giam hoặc quyết định tiếp tục tạm giam trong thời gian không quá 03 tháng nếu còn căn cứ và cần thiết để điều tra.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Tính từ các quy định trên, thời hạn tối đa của tạm giam để điều tra có thể lên tới02 tháng (ban đầu) + 04 tháng (hai lần gia hạn) + 03 tháng (tiếp tục), tức tổng cộng tối đa 09 tháng nếu các giai đoạn nối tiếp được chấp thuận và còn căn cứ.
Điểm cần nhấn mạnh: tổng thời gian tạm giam cộng với thời gian tạm giữ không được vượt quá thời hạn tối đa mà Điều 124 quy định cho từng loại tội phạm. Đây là “trần” tổng thể, được Hiệp phẩm tư pháp án dụng thống nhất trong xét xử sơ thẩm.
Thực tế, bên cạnh trần pháp lý, vấn đề đề xuất tạm giam cũng phải tuân thủ đúng thẩm quyền. Đề xuất tạm giam phải do thủ trưởng cơ quan điều tra (hoặc cơ quan được phân công điều tra) trình, có sự tham khảo ý kiến của Kiểm sát viên, rồi bàn xét xử Tòa án nhân dân cấp xét xử sơ thẩm xét trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được tờ trình. Vì vậy, từ thời điểm bắt giữ đến thời điểm được tạm giam thường có độ trễ 03 đến 05 ngày, và khoảng thời gian này không được tính vào thời hạn tạm giam mà được tính vào thời hạn tạm giữ.
Cần lưu ý thêm: thời hạn tạm giam được tính liên tục, không bị gián đoạn khi người bị tạm giam được xét xử sơ thẩm, bị kết án, kháng nối hoặc bị chuyển tạm giam giữ để xét xử. Việc “cắt” chuỗi thời gian giam giữ qua các quyết định liên tiếp là vi phạm nghiêm trọng, và đây là nội dung thường xuyên xuất hiện trong đơn khiếu nại của người bị tạm giam cũng như trong kiến nghị của Viện Kiểm sát nhân dân.
Người bị tạm giam không mất đi mọi quyền. BLTTHS 2015 bảo đảnh những quyền cơ bản sau đây và đây là cơ sở để người bị can và luật sư đại diện bảo vệ lợi ích hợp pháp.
Quyền gặp luật sư, được tư vấn pháp luật và có luật sư bào vệ. Đây là quyền thuộc diện không thể tước bỏ. Người bị tạm giam được mời luật sư tham gia hỗ trợ ngay tại thời điểm bị khởi tố, được cung
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.Đang gặp tranh chấp đất đai?