Tranh chấp tài sản trong gia đình: chia tài sản khi ly hôn, thừa kế | Công ty Luật Minh Bạch

Tranh chấp tài sản trong gia đình: chia tài sản khi ly hôn, thừa kế

thua-ke · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Tranh chấp tài sản gia đình là gì
  2. Phân biệt tài sản chung và tài sản riêng
  3. Thủ tục giải quyết tranh chấp
  4. Áp dụng pháp luật
  5. Lưu ý khi áp dụng
Nghị quyết này hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Tranh chấp tài sản trong gia đình là một trong những vấn đề phức tạp nhất của pháp luật hôn nhân và gia đình tại Việt Nam. Tài sản là nguồn gốc của nhiều mâu thuẫn khi hôn nhân đổ vỡ hoặc khi có người thân qua đời. Bài viết dưới đây của Công ty Luật Minh Bạch phân tích ba vấn đề cốt lõi: bản chất tranh chấp tài sản gia đình, cách phân biệt tài sản chung và tài sản riêng,cùng với thủ tục giải quyết và nguyên tắc áp dụng pháp luật.

1. Tranh chấp tài sản gia đình là gì

Tranh chấp tài sản gia đình là mâu thuẫn giữa các thành viên trong gia đình về quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền chiếm hữu đối với tài sản. Tranh chấp phát sinh trong hai bối cảnh chính: (i) khi ly hôn, các bên yêu cầu phân định tài sản chung; (ii) khi có người chết, những người thừa kế yêu cầu chia di sản.

Về bản chất, tranh chấp tài sản gia đình là tranh chấp dân sự, nhưng được giải quyết theo thủ tục riêng của pháp luật hôn nhân và gia đình (khi gắn với quan hệ hôn nhân) hoặc theo thủ tục thừa kế (khi phát sinh từ quan hệ thừa kế). Cả hai đều thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Điểm mấu chốt của mọi tranh chấp tài sản gia đình là xác định: (1) tài sản đó thuộc loại nào (chung hay riêng); (2) ai có quyền đối với tài sản; (3) giá trị tài sản là bao nhiêu; (4) phương thức phân chia. Chỉ khi bốn câu hỏi này được giải đáp, việc phân chia mới công bằng.

2. Phân biệt tài sản chung và tài sản riêng

Đây là vấn đề then chốt nhất, quyết định kết quả của hầu hết tranh chấp. Pháp luật Việt Nam phân biệt rõ tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng của mỗi người.

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng 1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ, chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ, chồng thỏa thuận là tài sản chung. 2. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch có đặc thù riêng. 3. Tài sản chung của vợ chồng được xác định theo thời kỳ hôn nhân.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Điều 34. Truy định tài sản chung của vợ chồng 1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng nhưng có giấy tờ ghi tên một người, có chứng cứ chứng minh tài sản do vợ, chồng tạo ra, tài sản mà vợ, chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung thì khi ly hôn không phảichia tài sản này. 2. Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng nhưng đã sáp nhập vào tài sản chung của vợ chồng thì khi ly hôn, tài sản này vẫn được coi là tài sản riêng của người đó, trừ trường hợp vợ, chồng có thỏa thuận khác.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Điều 35. Quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung 1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, học tập, chăm sóc sức khỏe và các nhu cầu thiết yếu khác của gia đình và của mỗi người; đối với tài sản chung có giá trị lớn phải có sự thỏa thuận của nhau. 2. Vợ, chồng có quyền thừa kế riêng theo pháp luật.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Khi ly hôn, nguyên tắc chia tài sản là thỏa thuận trước, Tòa án công nhận. Nếu không thỏa thuận được, Tòa án áp dụng nguyên tắc chia đôi, nhưng có xét đến công sức đóng góp của mỗi bên. Nghị quyết 01/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn cụ thể: công sức đóng góp của vợ, chồng được xem xét bao gồm lao động trong gia đình, lao động có thu nhập, công sức tạo lập tài sản.

Đối với thừa kế, phân biệt tài sản chung và riêng của người chết càng quan trọng. Chỉ phần tài sản riêng của người chết (hoặc phần chung của người chết trong khối tài sản chung với người sống) mới thuộc khối di sản. Ví dụ: nhà mua trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung; khi một spouse chết, chỉ một nửa giá trị nhà đó là di sản của người chết.

Điều 617. Khối di sản Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

3. Thủ tục giải quyết tranh chấp

Pháp luật Việt Nam cung cấp ba con đường giải quyết tranh chấp tài sản gia đình:

Thứ nhất, thỏa thuận giữa các bên. Đây là phương thức ưu tiên. Vợ chồng thỏa thuận chia tài sản khi ly hôn; những người thừa kế thỏa thuận chia di sản. Thỏa thuận phải bảo đảm không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Điều 3. Thỏa thuận của vợ chồng về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con phải không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Thứ hai, hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã. Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014, hòa giải viên cơ sở có trách nhiệm hòa giải khi Tòa án chuyển đơn yêu cầu. Hòa giải thành thì lập biên bản, có giá trị thi hành.

Thứ ba, khởi kiện ra Tòa án. Đây là phương thức cuối cùng khi thỏa thuận và hòa giải thất bại. Vụ án hôn nhân gia đình có tranh chấp tài sản được giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về thẩm quyền, Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết vụ án sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Vụ án có tranh chấp bất động sản mà nơi có bất động sản tranh chấp khác nơi cư trú của đương sự thì thẩm quyền xác định theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điều 9. Xác định thẩm quyền giải quyết vụ án về hôn nhân và gia đình trong một số trường hợp 1. Vụ án về hôn nhân và gia đình có tranh chấp về bất động sản mà nơi cư trú, làm việc của bị đơn, nguyên đơn quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và nơi có bất động sản đang tranh chấp khác nhau thì thẩm quyền của Tòa án được xác định theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Trong thừa kế, thủ tục chia di sản được thực hiện theo Điều 620-623 Bộ luật Dân sự 2015. Người thừa kế có thể thỏa thuận chia di sản bất cứ lúc nào, kể cả khi có tranh chấp về quyền thừa kế. Nếu không thỏa thuận được, khởi kiện ra Tòa án.

Điều 620. Thỏa thuận chia di sản Những người thừa kế có quyền thỏa thuận chia di sản, trừ trường hợp pháp luật có quy định bắt buộc phải chia di sản theo pháp luật.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Thời hiệu yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với người thừa kế cùng hàng; 10 năm đối với người thừa kế hàng kế tiếp; 03 năm đối với người thừa kế theo di chúc mà người để lại di sản chết trong vòng 30 năm. Hết thời hiệu, quyền yêu cầu chia di sản bị mất.

Điều 623. Thời hiệu thừa kế 1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc từ chối quyền thừa kế là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. 2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu thừa kế lại di sản do bị chiếm hữu trái phép là 10 năm đối với bất động sản, 02 năm đối với động sản, kể từ thời điểm người thừa kế biết việc chiếm hữu trái phép di sản. 3. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc từ chối quyền thừa kế là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. 4. Hết thời hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều này, người thừa kế mất quyền yêu cầu chia di sản; hết thời hiệu theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này, người thừa kế mất quyền yêu cầu thừa kế lại di sản hoặc xác nhận quyền thừa kế của mình, trừ trường hợp người thừa kế khác tự nguyện chia hoặc thừa kế lại di sản.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Khi khởi kiện, đương sự cần chuẩn bị: giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sổ hộ khẩu, giấy chứng nhận kết hôn, giấy khai tử, di chúc (nếu có), chứng từ chứng minh tài sản riêng, hóa đơn chứng từ mua bán tài sản. Tòa án sẽ thu thập chứng cứ, thẩm định giá tài sản nếu cần.

4. Áp dụng pháp luật

Áp dụng pháp luật trong tranh chấp tài sản gia đình đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều văn bản: Bộ luật Dân sự 2015, Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, và Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Nguyên tắc thứ tự áp dụng: (1) pháp luật đặc biệt (Luật Hôn nhân và gia đình) trước pháp luật chung (Bộ luật Dân sự); (2) luật trước nghị định; (3) văn bản hướng dẫn thi hành có hiệu lực tại thời điểm xảy ra quan hệ pháp luật.

Đối với thừa kế, Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thừa kế theo pháp luật (Điều 651-656) và thừa kế theo di chúc (Điều 626-645). Khi có di chúc hợp lệ, di chúc được thực hiện; di chúc không hợp lệ thì phần di sản đó chia theo pháp luật.

Điều 621. Thời điểm mở thừa kế Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được ghi trong quyết định của Tòa án.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật 1. Người thừa kế theo pháp luật là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, thứ hai và thứ ba theo quy định tại Điều 650 của Bộ luật này. 2. Người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. 3. Những người thừa kế không thuộc hàng thừa kế thứ nhất, thứ hai hoặc thứ ba theo quy định tại Điều 650 của Bộ luật này vẫn được hưởng di sản theo pháp luật nếu thuộc diện người thừa kế theo pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 651 của Bộ luật này.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Đối với ly hôn, nguyên tắc chia tài sản được quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: thỏa thuận trước, Tòa án công nhận; không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định theo nguyên tắc chia đôi, có xét đến công sức đóng góp, hoàn cảnh gia đình, bảo vệ lợi ích hợp pháp của mỗi bên.

Trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố đã chết, việc chia di sản bị hạn chế nếu việc chia ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống. Nghị quyết 01/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn cụ thể: di sản là chỗ ở duy nhất, nếu chia sẽ khiến người còn sống không có chỗ ở thì Tòa án có thể quyết định cho người còn sống tiếp tục sử dụng.

Điều 5. Hạn chế phân chia di sản của vợ, chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết quy định tại khoản 3 Điều 66 của Luật Hôn nhân và gia đình Việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống và gia đình theo quy định tại khoản 3 Điều 66 của Luật Hôn nhân và gia đình và Điều 661 của Bộ luật Dân sự là trường hợp người chết có để lại di sản, nhưng nếu chia di sản này cho người thừa kế thì vợ hoặc chồng còn sống và gia đình gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống như: không có chỗ ở, mất nguồn tư liệu sản xuất duy nhất...

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Án phí tranh chấp tài sản gia đình được thu theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Vụ án hôn nhân gia đình có tranh chấp tài sản phải chịu án phí sơ thẩm, phúc thẩm theo tỷ lệ phần trăm giá trị tài sản tranh chấp.

Lưu ý khi áp dụng

Thứ nhất, chứng cứ là yếu tố quyết định. Tranh chấp tài sản gia đình thường kéo dài vì thiếu chứng cứ. Hãy lưu giữ giấy tờ mua bán, chuyển nhượng, biên lai đóng thuế, sổ hộ khẩu, giấy chứng nhận kết hôn.

Thứ hai, thời hiệu là giới hạn cứng. Thời hiệu chia di sản 30 năm với bất động sản; thời hiệu yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn là trong thời kỳ hôn nhân hoặc trong thời hạn 03 năm kể từ ngày ly hôn có hiệu lực (đối với tài sản chưa chia). Hết thời hiệu, quyền bị mất.

Thứ ba, thỏa thuận là phương thức rẻ nhất, nhanh nhất, giữ được quan hệ gia đình. Hãy thử thỏa thuận trước khi khởi kiện.

Thứ tư, hòa giải viên cơ sở và Tòa án đều khuyến khích hòa giải. Nhiều vụ án kết thúc bằng thỏa thuận tại phiên tòa.

Thứ năm, tài sản có giá trị lớn (bất động sản, cổ phần, doanh nghiệp) cần thẩm định giá độc lập. Đừng chấp nhận định giá một chiều.

Sáu, di chúc phải hợp lệ về hình thức và nội dung. Di chúc không hợp lệ bị vô hiệu toàn bộ hoặc một phần; phần vô hiệu được chia theo pháp luật.

Bảy, con chưa thành niên từ đủ 07 tuổi trở lên được Tòa án lấy ý kiến về việc nuôi con. Ý kiến của con là yếu tố quan trọng nhưng không phải yếu tố duy nhất.

Tám, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con không bị xóa bỏ dù cha mẹ đã ly hôn. Mức cấp dưỡng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng cho mỗi con mỗi tháng.

Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Mỗi vụ việc có hoàn cảnh riêng; để được hỗ trợ cụ thể, vui lòng liên hệ Công ty Luật Minh Bạch để được luật sư phân tích tình huống của bạn.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp