Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại 1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác. 2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. 3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Trách nhiệm pháp lý do xâm phạm là gì?
Trách nhiệm pháp lý do xâm phạm là trách nhiệm pháp lý của chủ thể (cá nhân hoặc pháp nhân) khi hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác trong quan hệ dân sự, do chính chủ thể đó thực hiện và phải chịu hậu quả bất lợi theo quy định của pháp luật. Đây là loại trách nhiệm pháp lý dân sự thuộc phần thứ sáu Bộ luật Dân sự 2015 (Điều 584 – 599), được xác lập trên nền tảng nguyên tắc tự chịu trách nhiệm (Điều 3 khoản 5) và mệnh lệnh bảo vệ quyền dân sự (Điều 2).
Điều kiện cấu thành. Có bốn yếu tố: (i) hành vi trái pháp luật; (ii) xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác; (iii) lỗi của chủ thể (cố ý hoặc vô ý — Điều 586); (iv) quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại. Chủ thể phải tự nguyện chịu trách nhiệm (Điều 585), không có căn cứ miễn trừ thì bị áp đặt trách nhiệm thay thế với thiệt hại không thể thiết lại.
Hình thức chịu trách nhiệm. Tùy tính chất quan hệ pháp luật: bồi thường thiệt hại tài sản (Điều 584, 587); buộc công khai, xin lỗi (Điều 592, 593); buộc trả lại tài sản không có cơ sở pháp luật do nhận nhầm, bất cẩn hoặc lạm dụng quyền (Điều 594); áp đặt biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm nghĩa vụ bồi thường (Điều 599).
Ví dụ thực tiễn. Chủ nhà cho thuê căn hộ rồi khách làm hỏng nội thất và từ chối bồi thường. Hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự, chủ nhà bị buộc bồi thường tổn thất do lỗi bất cẩn của khách. Trường hợp bên kia chiếm đoạt tiền đặt cọc rồi viện dẫn “quan hệ tình cảm” để miễn trách nhiệm thì không có căn cứ: Điều 3 khoản 4 BLDS quy định việc xác lập, thực hiện nghĩa vụ không được xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Mức bồi thường do các bên thỏa thuận; không thỏa thuận thì theo quy định của pháp luật (Điều 595, 596), tổn thất về tinh thần doảnh hưởng sức khỏe, danh dự, uy tín được thường là thỏa thuận; không thỏa thuận thì tùy trường hợp cụ thể mà Tòa án quyết định, mức không quá 50 triệu đồng với định mức pháp luật.
Như vậy, trách nhiệm pháp lý do xâm phạm vừa là chế tài buộc chủ thể tôn trọng quyền dân sự của người khác, vừa là cơ chế phục hồi quyền và lợi ích hợp pháp đã bị vi phạm.
Theo Điều 584-599 Bộ luật Dân sự 2015, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp bao gồm các trường hợp: xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm (Điều 584); xâm phạm quyền nhân thân như quyền được bảo vệ hình ảnh, thư tín, bí mật cá nhân (Điều 585); xâm phạm tài sản qua hành vi cố ý hoặc vô ý gây thiệt hại (Điều 586); xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 587); xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (Điều 588); xâm phạm quyền sử dụng đất (Điều 589); xâm phạm quyền sở hữu hàng hóa, tài sản vô hình, tài sản chung, tài sản riêng (Điều 590-594); xâm phạm quyền đối với tài sản của người khác, tổ chức, cá nhân, pháp nhân (Điều 595-598); xâm phạm quyền đối với tài sản của các chủ thể khác (Điều 599). Ví dụ: công ty A sản xuất hàng giả nhãn hiệu B vi phạm Điều 588; hành vi xâm nhập trái phép vào nhà ở vi phạm Điều 589. Căn cứ pháp lý: Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13), Điều 584-599.
Bồi thường thiệt hại
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một trong những chế tài bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp khi bị xâm phạm. Theo Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015, người có hành vi vi phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác phải bồi thường thiệt hại. Thiệt hại được hiểu là sự suy giảm về tài sản, lợi ích vật chất và tinh thần do hành vi vi phạm gây ra.
Thiệt hại bao gồm thiệt hại vật chất và thiệt hại về tinh thần. Thiệt hại vật chất là sự mất mát, hư hỏng tài sản, chi phí hợp lý phát sinh để khắc phục hậu quả. Thiệt hại về tinh thần là sự đau khổ, tổn thương về cảm xực, danh dự, nhân phẩm. Ví dụ: A đâm xe làm hư hỏng xe của B, A phải bồi thường chi phí sửa chữa. Trường hợp C bôi nhọ danh tiếng D trên mạng xã hội, D được bồi thường thiệt hại về tinh thần.
Điều 585 quy định nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại. Người vi phạm phải bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế đã xảy ra. Điều 586 quy định thời hạn khởi kiện bồi thường thiệt hại là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Điều 587 quy định trường hợp giảm trừ trách nhiệm bồi thường khi người bị thiệt hại có lỗi. Điều 588 quy định mức bồi thường thiệt hại về tinh thần do xâm phạm quyền nhân thân. Điều 589 quy định trường hợp không có thiệt hại vật chất nhưng có lợi ích bị tước đoạt, người vi phạm phải trả lại lợi ích đó.
Việc xác định mức bồi thường căn cứ trên thiệt hại thực tế, quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả, mức độ lỗi của người vi phạm. Tòa án xem xét các yếu tố này để quyết định mức bồi thường hợp lý, đảm bảo công bằng cho các bên.
Thủ tục khởi kiện
Căn cứ Điều 584 BLDS 2015, nguyên đơn khởi kiện khi quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Đơn ghi rõ bị đơn, yêu cầu, chứng cứ. Tòa thụ lý theo thẩm quyền (Điều 585). Nộp lệ phí trước (Điều 586). Thời hiệu 3 năm từ ngày biết quyền bị xâm phạm (Điều 587). Tòa có thể tạm hoãn nếu bảo lãnh (Điều 588). Bên có quyền rút đơn trước khi tòa tuyên (Điều 589). Ví dụ: A kiện B vi phạm hợp đồng, đơn nêu thiệt hại, hóa đơn, bằng chứng. Tòa giải trước xét xử (Điều 590). Nếu không thành, xét xử công khai (Điều 591). Bản án có hiệu lực sau khi hết thời hạn kháng cáo (Điều 592). Tòa có thể buộc thi hành (Điều 593). Khởi kiện lại khi có lỗi (Điều 594). Thỏa thuận thụ lý được công nhận (Điều 595). Tòa từ chối thụ lý nếu không đủ điều kiện (Điều 596). Phán quyết dựa trên chứng cứ, luật (Điều 597). Chi phí do bên thua chịu (Điều 598). Tòa giải quyết công bằng (Điều 599).
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.