Quyền đăng ký sáng chế, quyền đăng ký kiểu dáng công nghiệp và quyền đăng ký thiết kế bố trí là ba quyền tài sản trí tuệ độc lập nằm trong nhóm quyền sở hữu công nghiệp theo Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12, Luật số 42/2019/QH14, Luật số 07/2022/QH15, Luật số 93/2025/QH15 và Luật số 131/2025/QH15, gọi tắt là "Luật Sở hữu trí tuệ"). Việc chủ thể nào được nắm giữ ba quyền này, được hệ thống pháp luật Việt Nam bảo hộ thế nào, và bước đi đầu tiên để giành được quyền ưu tiên là câu hỏi mà hầu hết doanh nghiệp đặt ra khi bắt đầu nghiên cứu tài sản trí tuệ của mình.
Bài viết dưới đây của Công ty Luật Minh Bạch phân tích vắn tắt bốn nội dung cốt lõi: đối tượng được bảo hộ, chủ thể có quyền đăng ký, nguyên tắc ưu tiên của người nộp đơn đầu tiên, và trình tự thủ tục nộp đơn theo quy định của Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Bộ Khoa học và Công nghệ (có hiệu lực từ ngày 01/8/2026), quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định số 65/2023/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 15/2026/NĐ-CP, Nghị định số 33/2026/NĐ-CP và Nghị định số 100/2026/NĐ-CP).
Điều 86 Luật Sở hữu trí tuệ quy định về quyền đăng ký sáng chế, là quyền của tác giả đối với sáng chế được Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ cấp theo trình tự, thủ tục nhất định. Điều khoản 1 của Điều 86 nêu rõ các loại sáng chế đủ điều kiện được đăng ký.
Điều 86. Quyền đăng ký sáng chế
1. Sáng chế được đăng ký trong nước sau đây là sáng chế mà đối tượng của sáng chế có tính chất mới, có khả năng áp dụng và có tính sáng tạo:
a) Sáng chế là phương pháp, quy trình nguyên lý, thiết bị, phương tiện, sản phẩm hoặc chế phẩm có thể được tạo ra bằng quy trình sản xuất công nghiệp hoặc thủ công;
b) Sáng chế là tổ hợp cải tiến của các thành phần nêu tại điểm a có thêm một thành phần mới;
c) Sáng chế là các phương thức y học bao gồm phương pháp chẩn đoán, phương pháp chữa bệnh và phương pháp phòng bệnh;
d) Sáng chế là sản phẩm vật chất được tạo ra bằng quy trình công nghiệp hoặc thủ công và có tính chất mới.
2. Phạm vi sáng chế được xác định theo nội dung yêu cầu bảo hộ mà người nộp đơn đề ra trong bản mô tả sáng chế và các tài liệu kèm theo.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điểm cần lưu ý thực tế: cả ba tiêu chí "mới, có khả năng áp dụng, có tính sáng tạo" là điều kiện tiên quyết. Phần mềm máy tính độc lập được tạo ra bằng hoạt động trí tuệ của con người có thể được coi là sáng chế, nhưng chỉ khi đáp ứng đồng thời cả ba tiêu chí nêu trên; phần mềm vi phạm lợi ích công cộng và phần mềm chỉ mang tính thuần toán bị loại trừ.
Điều 86. Quyền đăng ký sáng chế
3. Không được công nhận và bảo hộ sáng chế đối với nội dung sau đây:
a) Khám phá, lý thuyết, phương pháp nghiên cứu khoa học;
b) Phương pháp, quy trình, nguyên lý y học và chữa bệnh của con người hoặc động vật, không tính các phương pháp và sản phẩm nêu tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều này;
c) Các sản phẩm vật chất do tư duy và hoạt động sáng tạo của con người tạo ra nhưng bản chất là trí tuệ khác;
d) Sáng chế là phần mềm máy tính và các cách tạo ra phần mềm máy tính mà việc tạo ra chúng không dẫn đến sản phẩm có tính chất sáng chế;
đ) Sáng chế là cách phát hiện nguyên lý hoặc thành phần của sáng chế đã công bố trên báo chí dưới bất kỳ hình thức nào ở Việt Nam hoặc nước ngoài;
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Riêng với kiểu dáng công nghiệp, Điều 87 Luật Sở hữu trí tuệ giao cho Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quyền "tự quyết định cấp, thu hồi, hủy bỏ, đình chỉ, gia hạn, chấm dứt hiệu lực" Giấy chứng nhận đăng ký kiểu dáng công nghiệp.
Điều 87. Quyền đăng ký kiểu dáng công nghiệp
1. Kiểu dáng công nghiệp là hình hình, tạo ra sản phẩm công nghiệp có tính chất mới, có khả năng áp dụng và có tính sáng tạo.
2. Quyền đăng ký kiểu dáng công nghiệp thuộc về chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp, là quyền của tác giả đối với kiểu dáng công nghiệp được Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ cấp theo trình tự, thủ tục nhất định.
3. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ có quyền tự quyết định cấp, thu hồi, hủy bỏ, đình chỉ, gia hạn, chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký kiểu dáng công nghiệp.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Với thiết kế bố trí, Điều 88 xác định đây là loại tài sản trí tuệ bảo hộ theo thủ tục tự động, không trải qua thẩm định nội dung về tính mới, khả năng áp dụng, tính sáng tạo như sáng chế hay kiểu dáng công nghiệp.
Điều 88. Quyền đăng ký thiết kế bố trí
1. Thiết kế bố trí là sản phẩm có tính sáng tạo trong thiết kế hình hình không gian, bao gồm: kiến trúc; công trình xây dựng; thiết bị và phương tiện giao thông; công trình công nghiệp; công trình nghệ thuật; giao diện thiết bị và phần mềm máy tính.
2. Quyền đăng ký thiết kế bố trí thuộc về chủ sở hữu thiết kế bố trí, là quyền của tác giả đối với thiết kế bố trí được Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ cấp theo trình tự, thủ tục nhất định.
3. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ có quyền tự quyết định cấp, thu hồi, hủy bỏ, đình chỉ, gia hạn, chấm dứt hiệu lực Giấy chứng nhận đăng ký thiết kế bố trí.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điểm khác biệt về bản chất đã được hiện thực hóa ngay trong Thông tư số 10/2026/TT-BKHCN. Thông tư mở rộng đáng kể phạm vi "giao diện thiết bị và phần mềm máy tính" trong nhóm thiết kế bố trí, đồng thời tách riêng trình tự xử lý cho thiết kế bố trí và quy định rõ ràng Cục Sở hữu trí tuệ ra quyết định cấp hay từ chối cấp văn bằng bảo hộ "dựa trên kết quả thẩm định hình thức" — tức không có bước thẩm định nội dung.
Điều 4. Thủ tục xử lý đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý và thiết kế bố trí
2. Đơn đăng ký thiết kế bố trí được tiếp nhận, thẩm định hình thức, công bố theo quy định tại các Điều 40, 41, 42 của Thông tư này. Trong quá trình xử lý đơn, người nộp đơn có quyền sửa đổi, bổ sung đơn hoặc rút đơn theo quy định, với điều kiện nộp phí, lệ phí tương ứng. Cục Sở hữu trí tuệ ra quyết định cấp hoặc từ chối cấp văn bằng bảo hộ dựa trên kết quả thẩm định hình thức đơn đăng ký thiết kế bố trí. Quyết định cấp văn bằng bảo hộ được đăng trên Công báo sở hữu công nghiệp.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Ngược lại, đơn sáng chế, kiểu dáng công nghiệp đi qua trình tự đầy đủ hơn, gồm bảy bước từ tiếp nhận đến quyết định cấp, và với đơn sáng chế còn có sự khác biệt: việc thẩm định nội dung chỉ được thực hiện khi có yêu cầu.
Điều 4. Thủ tục xử lý đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý và thiết kế bố trí
1. Đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được tiếp nhận và xử lý thực hiện theo trình tự sau đây, trừ trường hợp có quy định riêng đối với từng loại đơn theo quy định của Thông tư này và các văn bản pháp luật liên quan:
a) Tiếp nhận theo quy định tương ứng tại các Điều 13, 47, 70, 95 của Thông tư này;
b) Thẩm định hình thức theo quy định tại các Điều 14, 48, 71, 96 của Thông tư này;
c) Công bố theo quy định tại các Điều 15, 49, 72, 97 của Thông tư này, trừ trường hợp đơn đăng ký sáng chế mật không được công bố theo quy định tại Điều 49 của Nghị định số 65/2023/NĐ-CP;
đ) Thẩm định nội dung theo quy định tại các Điều 17, 50, 73, 98 của Thông tư này. Đối với đơn đăng ký sáng chế, việc thẩm định nội dung được thực hiện khi có yêu cầu;
đ) Trường hợp người thứ ba có ý kiến phản đối đơn, việc xử lý ý kiến phản đối được thực hiện theo quy định tại các Điều 27, 59, 82, 103 của Thông tư này;
e) Cục Sở hữu trí tuệ ra quyết định cấp hoặc từ chối cấp văn bằng bảo hộ dựa trên kết quả thẩm định nội dung đơn. Quyết định cấp văn bằng bảo hộ được đăng trên Công báo sở hữu công nghiệp;
g) Trong quá trình xử lý đơn, người nộp đơn có quyền sửa đổi, bổ sung đơn, rút đơn, tách đơn hoặc chuyển đổi đơn theo quy định, với điều kiện nộp phí, lệ phí tương ứng.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Chủ thể có quyền đăng ký được Luật Sở hữu trí tuệ mở rộng đáng kể so với các bản luật trước đây. Ngoài cá nhân và tổ chức, Điều 86 và Điều 88 bổ sung nhóm chủ thể mới, phù hợp với thực tế các mô hình nghiên cứu chung và phát triển công nghệ.
Điều 90. Người có quyền đăng ký sáng chế
1. Tác giả, chủ sở hữu sáng chế là người có quyền đăng ký sáng chế.
2. Tác giả, chủ sở hữu sáng chế là tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký sáng chế, trừ quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều này.
3. Tác giả sáng chế là cá nhân trực tiếp sáng tạo ra sáng chế.
4. Chủ sở hữu sáng chế là tổ chức đầu tư tài chính để thực hiện sáng chế, là chủ thể được Nhà nước đầu tư vốn để thực hiện sáng chế, là tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao thực hiện sáng chế. Tác giả sáng chế, chủ thể được giao thực hiện sáng chế là người có quyền đăng ký sáng chế, trừ trường hợp quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 86 của Luật này.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Người sử dụng lao động được công nhận là tác giả sáng chế để hưởng quyền đăng ký sáng chế khi sáng chế được tạo ra trong quá trình lao động được giao, dưới điều kiện quyền ưu tiên của việc sáng tạo là nghĩa vụ lao động và quyền, lợi ích của chủ sở hữu sáng chế đã được thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
Điều 90. Người có quyền đăng ký sáng chế
5. Người sử dụng lao động được công nhận là tác giả sáng chế để hưởng quyền đăng ký sáng chế khi sáng chế được tạo ra trong quá trình lao động được giao, dưới điều kiện quyền ưu tiên của việc sáng tạo là nghĩa vụ lao động và quyền, lợi ích của chủ sở hữu sáng chế đã được thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Đối với kiểu dáng công nghiệp, người có quyền đăng ký là tác giả, chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp, gồm tổ chức, cá nhân, và bổ sung chủ thể là tổ chức đầu tư tài chính để thực hiện kiểu dáng công nghiệp, chủ thể được Nhà nước giao thực hiện kiểu dáng công nghiệp.
Điều 91. Người có quyền đăng ký kiểu dáng công nghiệp
1. Tác giả, chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp là người có quyền đăng ký kiểu dáng công nghiệp.
2. Tác giả, chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp là tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký kiểu dáng công nghiệp, trừ quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Tác giả kiểu dáng công nghiệp là cá nhân trực tiếp sáng tạo ra kiểu dáng công nghiệp.
4. Người sử dụng lao động được công nhận là tác giả kiểu dáng công nghiệp để hưởng quyền đăng ký kiểu dáng công nghiệp khi kiểu dáng công nghiệp được tạo ra trong quá trình lao động được giao, dưới điều kiện quyền ưu tiên của việc sáng tạo là nghĩa vụ lao động và quyền, lợi ích của chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp đã được thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 92 mở rộng cùng cách ghi nhận này cho thiết kế bố trí, đồng thời quy định thời hạn ưu tiên 12 tháng cho thiết kế bố trí công nghiệp và 24 tháng cho kiến trúc nếu sáng chế/kiểu dáng chưa được công bố tại Việt Nam mà được công bố tại nước ngoài dưới hình thức ứng phẩm, báo cáo khoa học hay hội nghị.
Điều 92. Người có quyền đăng ký thiết kế bố trí
1. Tác giả, chủ sở hữu thiết kế bố trí là người có quyền đăng ký thiết kế bố trí.
2. Tác giả, chủ sở hữu thiết kế bố trí là tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký thiết kế bố trí.
3. Tác giả thiết kế bố trí là cá nhân trực tiếp sáng tạo ra thiết kế bố trí.
4. Người sử dụng lao động được công nhận là tác giả thiết kế bố trí để hưởng quyền đăng ký thiết kế bố trí khi thiết kế bố trí được tạo ra trong quá trình lao động được giao, dưới điều kiện quyền ưu tiên của việc sáng tạo là nghĩa vụ lao động và quyền, lợi ích của chủ sở hữu thiết kế bố trí đã được thỏa thuận trong hợp đồng lao động.
5. Người có quyền đăng ký thiết kế bố trí công nghiệp là cá nhân, tổ chức có tư cách chủ thể thiết kế bố trí công nghiệp dưới đây:
a) Được thành lập hoặc cổ phần hóa theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, chuyên nghiên cứu, áp dụng, phát triển và sản xuất thiết kế bố trí công nghiệp; hoặc
b) Là tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao nghiên cứu, phát triển, áp dụng thiết kế bố trí công nghiệp.
6. Người có quyền đăng ký thiết kế bố trí kiến trúc là cá nhân, tổ chức có tư cách chủ thể thiết kế bố trí kiến trúc dưới đây:
a) Có năng lực chuyên môn về kiến trúc, hội viên hợp danh của Hội kiến trúc liên kết quốc tế, UIA, tổ chức quốc tế có tính chất tương đương hoặc cá nhân có tư cách chuyên gia hành nghề kiến trúc theo quy định của pháp luật về điều lệ nghề kiến trúc;
b) Là tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao thiết kế, xây dựng, tư vấn, quản lý công trình kiến trúc.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Đối với sáng chế, quyền đăng ký thuộc về cá nhân hoặc tổ chức là tác giả sáng chế. Khi nhiều người cùng tác giả tạo ra sáng chế, các bên có thể thỏa thuận về việc chia quyền đăng ký; thỏa thuận của chủ thể thiết kế bố trí được ghi nhận trong bản tự kê khai của bản mô tả thiết kế bố trí và tạo điều kiện nộp tờ kê khai theo Thông tư này.
Điều 90. Người có quyền đăng ký sáng chế
6. Khi nhiều người cùng tác giả tạo ra sáng chế thì các bên có thể thỏa thuận về việc chia quyền đăng ký sáng chế; thỏa thuận của chủ thể thiết kế bố trí được ghi nhận trong bản tự kê khai củaĐang gặp tranh chấp đất đai?
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.