Điều 66. Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết 1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản. 2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế. 3. Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự. 4. Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Khi một bên chết hoặc được tuyên bố mất tích, quan hệ hôn nhân chấm dứt đối với bên còn sống; hôn nhân chỉ còn hiệu lực giữa những người còn sống (Điều 45, Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình 2014). Từ thời điểm đó, vợ hoặc chồng còn sống trở thành chủ sở hữu độc quyền của tài sản chung trong thời gian hôn nhân, trừ khi trước đó hai bên đã có thỏa thuận tài sản khác theo Điều 61 và Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình.
Việc quản lý tài sản chung sau đó thuộc thẩm quyền của vợ hoặc chồng còn sống và các con chung. Theo Điều 66, tài sản chung là tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời gian hôn nhân (tiền lương, tiền công, nhà ở, xe cộ, tài sản từ thừa kế chung…). Người còn sống có quyền và nghĩa vụ bảo quản, không xâm phạm, không phát tán tài sản; không thể tự ý bán, tặng, thế chấp tài sản chung trước khi chia tài sản thừa kế. Tài sản chung không chia được trong trường hợp pháp luật quy định thì nguyên trạng tài sản và nghĩa vụ trả nợ, nghĩa vụ cấp dưỡng được xử lý theo quy định của Điều 66 cùng Bộ luật Dân sự 2015.
Thứ tự xử lý thực tiễn: (i) lập danh sách và bảo quản tài sản chung; (ii) xác định nợ chung của gia đình trong thời gian hôn nhân và chi phí tang lễ, hương khói; (iii) phân chia tài sản thừa kế theo phần tích của thừa kế để lại, phần đề thừa tự do thuộc về vợ hoặc chồng còn sống và các con thừa kế, phần thừa kế bắt buộc theo Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình và Điều 607 Bộ luật Dân sự 2015; (iv) đăng ký sang tên tại cơ quan đăng ký đất đai và tổ chức có thẩm quyền.
Ví dụ: vợ chồng có một căn nhà đứng tên chồng, tiền gửi ngân hàng chung và một xe. Chồng chết không để lại di sản. Vợ còn sống tiếp tục ở nhà, quản lý tài sản; nếu không có di sản thừa kế khác và không có tranh chấp, vợ là chủ sở hữu toàn bộ tài sản chung (Điều 66). Trường hợp có hai người con, mỗi người thừa kế một phần, vợ phải làm thủ tục chia tài sản thừa kế và cơ quan đăng ký nhà đai phải căn cứ vào văn bản thỏa thuận hoặc quyết định của tòa án về việc chia tài sản thừa kế; nếu không thỏa thuận được, vợ có quyền yêu cầu Tòa án dân sự giải quyết.
Lưu ý: các quy định nêu trên được trích theo Luật 52/2014/QH13; một số điều khoản có thể đã được Luật số 81/2025/QH15 sửa đổi, cần tra cứu văn bản sửa đổi khi áp dụng cho vụ việc cụ thể.
Chia đôi tài sản chung khi có yêu cầu chia di sản
Theo Điều 66 Luật HN&GĐ 2014, khi một bên vợ hoặc chồt chết hoặc bị tuyên bố đã chết, việc chia di sản phải tiến hành sau khi chia đôi tài sản chung của vợ chồng. Phần tài sản còn lại của người chết mới là di sản để phân chia theo di chúc hoặc pháp luật.
Trình tự áp dụng:
Ví dụ: Vợ chồng ông A bà B sở hữu chung căn nhà (giá trị 2 tỷ). Ông A chết. Căn nhà chia đôi: bà B được 1 tỷ (nửa chung), 1 tỷ còn lại là di sản ông A để chia cho người thừa kế.
Lưu ý: Chia đôi tài sản chung không phải chia di sản. Người sống còn giữ quyền sở hữu nửa tài sản chung trước khi phân chia phần di sản.
Quyền yêu cầu hạn chế phân chia di sản
Điều 66 Luật HN&GĐ 2014 quy định: vợ/chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia tài sản chung khi việc phân chia làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt gia đình, khả năng sinh kế.
Căn cứ pháp lý: khoản 2 Điều 66 cho phép Tòa án xem xét yêu cầu hạn chế phân chia theo nguyện vọng vợ/chồng còn sống. Khoản 3 quy định thời hạn hạn chế do Tòa án xác định, không quá 03 năm, có gia hạn.
Phân tích: quyền này cân bằng lợi ích giữa vợ/chồng còn sống và người thừa kế. Tòa án cần đánh giá: tình trạng sinh hoạt thực tế, nguồn thu nhập, số người phụ thuộc, giá trị tài sản chung.
Ví dụ: chồng chết, để lại nhà ở duy nhất và quyền sử dụng đất. Vợ còn sống, không có thu nhập, đang ở trong nhà. Vợ yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia nhà ở trong 03 năm để đảm bảo chỗ ổn định. Tòa án có thể chấp nhận, giao nhà cho vợ hưởng trong thời hạn, người thừa kế được bù đẕp bằng tài sản khác hoặc tiền.
Lưu ý: quyền yêu cầu không tự động phát sinh. Vợ/chồng còn sống phải chứng minh được sự ảnh hưởng nghiêm trọng. Tòa án quyết định theo từng cụ thể.
Phân tích: Điều 66 Luật HN&GĐ 2014 quy định tài sản chung của vợ chồng bao gồm lợi nhuận, thu nhập từ hoạt động kinh doanh, sản phẩm phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Vợ chồng có quyền sử dụng, định đoạt tài sản chung theo thỏa thuận hoặc theo quy định pháp luật. Khi một bên chết hoặc bị tuyên bố đã chết, tài sản kinh doanh chung được xác định phần tài sản của người chết để chia thừa kế, phần còn lại thuộc về người còn sống.
Ví dụ thực tiễn: Vợ chồng A và B cùng đầu ty kinh doanh công ty TNHH. Khi A chết, tài sản chung gồm vốn góp, lợi nhuận công ty. B được sở hữu 50% tài sản chung, 50% còn lại là di sản của A để chia thừa kế cho B, con cái, cha mẹ A theo Điều 65 Luật HN&GĐ 2014.
Căn cứ pháp luật: Điều 66 khoản 1 Luật HN&GĐ 2014: "Tài sản chung của vợ chồng bao gồm: tài sản do vợ chồng tạo ra, lợi nhuận, thu nhập hợp pháp từ hoạt động sản xuất, kinh doanh...". Khoản 2: "Vợ chồng có quyền sử dụng, định đoạt tài sản chung theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật".
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.