Điều 266. Bản án sơ thẩm 1. Tòa án ra bản án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2. Bản án gồm có phần mở đầu, phần nội dung vụ án và nhận định và phần quyết định của Tòa án, cụ thể như sau: a) Trong phần mở đầu phải ghi rõ tên Tòa án xét xử sơ thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số bản án và ngày tuyên án; họ, tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch; tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện; người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; đối tượng tranh chấp; số, ngày, tháng, năm của quyết định đưa vụ án ra xét xử; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử; b) Trong phần nội dung vụ án và nhận định của Tòa án phải ghi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về các tình tiết của vụ án, những căn cứ pháp luật, nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này thì còn phải căn cứ vào tập quán, tương tự pháp luật, những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng, để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự, người bảo v
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 266 BLTTDS 2015 quy định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện (Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương – gọi chung là Tòa án cấp huyện) đối với vụ việc dân sự.
1. Thẩm quyền theo loại vụ việc: Tòa án cấp huyện giải quyết sơ thầm các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động theo quy định tại Điều 35 BLTTDS 2015. Cụ thể: vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện theo phân loại tại Điều 26 (tranh chấp dân sự), Điều 27 (hôn nhân và gia đình), Điều 28 (kinh doanh, thương mại), Điều 29 (lao động) và Điều 30 (việc dân sự) BLTTDS 2015.
2. Phạm vi cụ thể: Tòa án cấp huyện xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự thông thường, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo Điều 35 khoản 1 (ví dụ: vụ án có yếu tố nước ngoài, tranh chấp về quyền sở hữu đất đai tại nơi không có Tòa án cấp huyện, vụ án phức tạp...).
3. Ví dụ thực tiễn: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa hai cá nhân trên địa bàn quận X – Tòa án nhân dân quận X thụ lý sơ thẩm. Tranh chấp lao động giữa người lao động và doanh nghiệp tại huyện Y – Tòa án nhân dân huyện Y giải quyết sơ thẩm.
4. Căn cứ phân bổ thẩm quyền: Điều 35 BLTTDS 2015 phân định rõ ranh giới thẩm quyền giữa Tòa án cấp huyện và Tòa án cấp tỉnh. Điều 26-30 BLTTDS 2015 xác định loại vụ việc thuộc từng lĩnh vực. Khi thụ lý, Tòa án kiểm tra đủ điều kiện thẩm quyền theo cả hai tiêu chí: loại vụ việc (Điều 26-30) và cấp độ Tòa án (Điều 35).
5. Hệ quả pháp lý: Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp huyện có thể bị kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo thủ tục phúc thẩm quy định tại Chương XXII BLTTDS 2015. Nếu không kháng cáo hoặc hết thời hạn kháng cáo, bản án có hiệu lực pháp luật.
Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện được quy định tại Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Theo đó, Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện.
Điều 266 không liệt kê trực tiếp các loại việc mà dẫn chiếu sang các điều luật về thẩm quyền theo loại việc. Cụ thể, Tòa án cấp huyện giải quyết tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự và pháp luật chuyên ngành.
Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện. Theo đó, Tòa án cấp huyện giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền của mình; đồng thời giải quyết các việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện theo quy định của Bộ luật này và pháp luật có liên quan.
Điều 26 đến Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định thẩm quyền theo loại việc. Theo đó, Tòa án cấp huyện giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động có giá trị tài sản hoặc giá trị yêu cầu trong phạm vi thẩm quyền của Tòa án cấp huyện theo quy định của pháp luật. Ví dụ, tranh chấp về hợp đồng dân sự, tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về thừa kế, tranh chấp về lao động có giá trị trong phạm vi thẩm quyền của Tòa án cấp huyện.
Thực tiễn áp dụng, khi người dân khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản có giá trị trong phạm vi thẩm quyền của Tòa án cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú hoặc nơi có tài sản tranh chấp sẽ thụ lý và giải quyết theo thủ tục sơ thẩm. Trường hợp giá trị tranh chấp vượt quá thẩm quyền của Tòa án cấp huyện, Tòa án cấp huyện sẽ chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết theo thẩm quyền.
Việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp huyện bảo đảm giải quyết vụ việc dân sự nhanh chóng, đúng thẩm quyền, tránh chồng chéo trong giải quyết vụ việc.
Theo Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân cấp tỉnh (Tòa án cấp tỉnh) giải quyết sơ thẩm các vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện, trừ trường hợp Điều 35 quy định thuộc thẩm quyền Tòa án cấp huyện. Cụ thể, Tòa án cấp tỉnh xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, việc dân sự mà Điều 26 đến Điều 30 BLTTDS 2015 phân bố thẩm quyền theo loại việc, nhưng loại trừ những tranh chấp thuộc thẩm quyền Tòa án cấp huyện theo Điều 35.
Phân tích hệ thống phân bố thẩm quyền: Điều 35 BLTTDS 2015 quy định Tòa án cấp huyện giải quyết sơ thẩm các vụ án dân sự, việc dân sự liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, hợp đồng mua bán, cho vay, thừa kế, lao động, hôn nhân và gia đình theo quy định. Như vậy, Tòa án cấp tỉnh thẩm quyền sơ thẩm đối với các vụ việc còn lại không thuộc diện Điều 35 giao cho cấp huyện. Ví dụ thực tiễn: tranh chấp hợp đồng chuyển giao công nghệ giữa hai doanh nghiệp thuộc tỉnh khác nhau, tranh chấp về quyền tác giả tác phẩm sáng tạo, hoặc vụ án phức tạp liên quan đến nhiều bên ở nhiều địa phương trong tỉnh. Các vụ việc này không thuộc thẩm quyền Tòa án cấp huyện theo Điều 35, do đó thuộc thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án cấp tỉnh.
Viện dẫn chính xác: Điều 266 BLTTDS 2015 quy định thẩm quyền Tòa án cấp tỉnh; Điều 35 BLTTDS 2015 quy định thẩm quyền Tòa án cấp huyện; Điều 26-30 BLTTDS 2015 quy định thẩm quyền theo loại việc dân sự. Sự phân bố này đảm bảo nguyên tắc phân cấp thẩm quyền hợp lý, Tòa án cấp tỉnh tập trung giải quyết các vụ việc phức tạp, có tính chất liên địa phương hoặc giá trị lớn, trong khi Tòa án cấp huyện xử lý các tranh chấp phổ thông, gần dân, đảm bảo tốc độ và hiệu quả tố tụng.
Điều 266 BLTTDS 2015 phân định thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo loại việc. Đây là cơ sở xác định Tòa án có thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết vụ việc dân sự.
1. Thẩm quyền theo khoản 1 Điều 266: Tòa án cấp huyện giải quyết tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định của BLTTDS và luật khác có liên quan. Thẩm quyền này được cụ thể hóa tại Điều 35 BLTTDS 2015, bao gồm tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động mà giá trị tài sản tranh chấp hoặc giá trị yêu cầu không vượt quá 02 tỷ đồng (trừ các tranh chấp thuộc thẩm quyền riêng của Tòa án cấp tỉnh).
2. Thẩm quyền theo khoản 2 Điều 266: Tòa án cấp tỉnh giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh theo quy định của BLTTDS và luật khác có liên quan. Theo Điều 26-30 BLTTDS 2015, Tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các tranh chấp có giá trị tài sản tranh chấp hoặc giá trị yêu cầu trên 02 tỷ đồng; tranh chấp về đất đai; tranh chấp về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; tranh chấp về kinh doanh, thương mại giữa cá nhân với tổ chức có đăng ký kinh doanh mà giá trị tranh chấp trên 02 tỷ đồng; tranh chấp về lao động giữa người lao động với người sử dụng lao động là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Ví dụ thực tiễn: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản có giá trị 1,5 tỷ đồng thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện (khoản 1 Điều 266, Điều 35 BLTTDS 2015). Tranh chấp thừa kế di sản có giá trị 3 tỷ đồng thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh (khoản 2 Điều 266, Điều 26 BLTTDS 2015).
Phân biệt: Thẩm quyền theo loại việc tại Điều 266 được xác định theo giá trị tài sản tranh chấp, tính chất tranh chấp và chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tranh chấp. Việc xác định đúng thẩm quyền bảo đảm vụ việc được giải quyết bởi Tòa án có thẩm quyền, tránh kéo dài thời gian tố tụng và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên.
1. Khái niệm và cơ sở pháp lý
Chuyển vụ án theo thẩm quyền là việc Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm nhận được vụ án nhưng thấy vụ án đó thuộc thẩm quyền của Tòa án khác thì chuyển vụ án đó cho Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm để giải quyết. Căn cứ pháp lý, việc chuyển vụ án phải xuất phát từ chính điều luật về thẩm quyền theo loại việc tại các điều từ 26 đến 30 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và từ quy định về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
2. Điều kiện áp dụng
3. Ví dụ thực tiễn
Một vụ án đòi lại tài sản trong quan hệ hôn nhân gia đình có giá trị lớn, tranh chấp phát sinh từ việc các bên là chủ thể kinh doanh và mức tranh chấp thuộc loại việc mà luật quy định thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh. Nếu bị đơn kiện nộp tại Tòa án nhân dân huyện, Tòa án này có trách nhiệm xác định đúng loại việc theo các điều 27, 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, sau đó lập văn bản chuyển vụ án kèm hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền. Cần phân biệt với trường hợp chuyển vụ án vì lý do tố tụng tại Điều 268 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, khi nguyên nhân chuyển là do yêu cầu của các bên, do xung đột thẩm quyền giữa các Tòa án cùng cấp hoặc do lý do công khai của xét xử.
4. Yêu cầu thực hiện
Chuyển vụ án phải đúng thẩm quyền, đúng thời điểm và kèm đầy đủ hồ sơ. Chuyển vụ án không phải là cơ sở để kéo dài thời gian giải quyết; trường hợp vụ án vẫn thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì Tòa án tiếp tục thụ lý và giải quyết. Việc chuyển vụ án phải được thực hiện bằng văn bản, có nêu rõ căn cứ pháp lý và thông tin vụ án, bảo đảm quyền lợi của các bên tranh chấp được thông báo và bảo vệ trong quá trình tố tụng.
Xác định thẩm quyền sơ thẩm phải theo hai bước: xác định loại việc, sau đó mới xác định cấp xét xử.
Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 xác lập nguyên tắc chung: Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án, việc dân sự thuộc thẩm quyền của mình theo quy định của Bộ luật này. Như vậy, Điều 266 không tự tạo thêm thẩm quyền, mà chỉ dẫn về vị trí cấp xét xử; nguồn của thẩm quyền vẫn là các điều quy định về loại việc.
Do đó, trước hết phải xác định vụ việc thuộc loại nào theo Điều 26 đến Điều 30 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 — tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động — rồi mới áp Điều 35 về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và các điều luật chuyên ngành.
Lưu ý thực tiễn:
Hệ quả nếu xác định sai: Tòa án xét xử vụ án vượt thẩm quyền thì bản án có thể bị Tòa án cấp trên hủy theo quy định về lý do hủy bản án sơ thẩm, gây chậm giải quyết và ảnh hưởng quyền lợi của các bên.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.