Điều 106 BLTTHS 2015: Xử lý vật chứng | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 106 BLTTHS 2015: Xử lý vật chứng

hinh-su · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Nội dung Điều 106 BLTTHS 2015
  2. Vật chứng trong vụ án hình sự
  3. Các hình thức xử lý vật chứng
  4. Trả lại tài sản cho chủ sở hữu
  5. Tịch thu sung quỹ nhà nước
  6. Tiêu hủy vật chứng không có giá trị
  7. Lưu ý khi áp dụng

Vật chứng là một trong những căn cứ quan trọng nhất để xác định hành vi phạm tội, mức độ nguy hiểm của hành vi và trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Tuy nhiên, sau khi vụ án kết thúc, vật chứng được xử lý như thế nào lại là vấn đề ít được quan tâm đúng mức, trong khi ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, người bị hại và chủ sở hữu tài sản. Bài viết dưới đây của Công ty Luật Minh Bạch phân tích toàn diện quy định về xử lý vật chứng theo Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, với căn cứ pháp lý chính là Điều 106, Điều 89 và Điều 90 của Bộ luật này.

1. Nội dung Điều 106 BLTTHS 2015

Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 là cơ sở pháp lý trực tiếp điều chỉnh việc xử lý vật chứng sau khi kết thúc điều tra, truy tố, xét xử hoặc trong các trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Theo đó, vật chứng được xử lý theo nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào tính chất, nguồn gốc và giá trị của vật chứng.

Điều 106. Xử lý vật chứng 1. Vật chứng là tiền, kim loại quý, đá quý, ngoại tệ tự do chuyển đổi, giấy tờ có giá thì được bán theo quy định của pháp luật; số tiền thu được sung quỹ nhà nước. 2. Vật chứng là hàng hoá bị cấm lưu thông thì phải tiêu huỷ. 3. Vật chứng là hàng hoá, phương tiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước được xử lý theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. 4. Vật chứng là vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, chất độc, chất phóng xạ, chất dễ cháy, dễ nổ thì được giao cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý. 5. Vật chứng là tài sản không có giá trị sử dụng thì phải tiêu huỷ. 6. Vật chứng là tài sản thuộc diện phải trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp thì phải trả lại. 7. Vật chứng là tài sản khác thì được bán theo quy định của pháp luật; số tiền thu được sung quỹ nhà nước. 8. Trong trường hợp vụ án bị đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án thì vật chứng được xử lý như sau: a) Vật chứng là tiền, kim loại quý, đá quý, ngoại tệ tự do chuyển đổi, giấy tờ có giá thì được bán theo quy định của pháp luật; số tiền thu được sung quỹ nhà nước; b) Vật chứng là hàng hoá bị cấm lưu thông thì phải tiêu huỷ; c) Vật chứng là hàng hoá, phương tiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước được xử lý theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; d) Vật chứng là vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, chất độc, chất phóng xạ, chất dễ cháy, dễ nổ thì được giao cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý; đ) Vật chứng là tài sản không có giá trị sử dụng thì phải tiêu huỷ; e) Vật chứng là tài sản thuộc diện phải trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp thì phải trả lại; g) Vật chứng là tài sản khác thì được bán theo quy định của pháp luật; số tiền thu được sung quỹ nhà nước. 9. Trong trường hợp vụ án bị hủy để điều tra lại, xét xử lại thì vật chứng được xử lý như sau: a) Vật chứng là tiền, kim loại quý, đá quý, ngoại tệ tự do chuyển đổi, giấy tờ có giá thì được bán theo quy định của pháp luật; số tiền thu được sung quỹ nhà nước; b) Vật chứng là hàng hoá bị cấm lưu thông thì phải tiêu huỷ; c) Vật chứng là hàng hoá, phương tiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước được xử lý theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; d) Vật chứng là vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, chất độc, chất phóng xạ, chất dễ cháy, dễ nổ thì được giao cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý; đ) Vật chứng là tài sản không có giá trị sử dụng thì phải tiêu huỷ; e) Vật chứng là tài sản thuộc diện phải trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp thì phải trả lại; g) Vật chứng là tài sản khác thì được bán theo quy định của pháp luật; số tiền thu được sung quỹ nhà nước. 10. Việc xử lý vật chứng phải được lập thành biên bản và giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Điều 106 được xây dựng trên nguyên tắc: vật chứng phải được xử lý đúng quy định, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu, đồng thời không để tài sản thuộc diện phải sung quỹ nhà nước bị thất thoát. Việc xử lý vật chứng phải được lập thành biên bản, thể hiện tính công khai, minh bạch trong tố tụng hình sự.

2. Vật chứng trong vụ án hình sự

Trước khi phân tích các hình thức xử lý, cần làm rõ khái niệm vật chứng theo quy định của pháp luật. Vật chứng là những đồ vật, tài sản có liên quan trực tiếp đến vụ án, được sử dụng làm căn cứ để xác định hành vi phạm tội, hoàn cảnh phạm tội, mức độ nguy hiểm của hành vi và trách nhiệm hình sự của người phạm tội.

Điều 89. Vật chứng 1. Vật chứng là đồ vật, tài sản có giá trị sử dụng, chứng minh được sự thật của vụ án hình sự. 2. Vật chứng bao gồm: hung khí, công cụ, phương tiện phạm tội; tài sản do phạm tội mà có; tài sản, đồ vật khác có liên quan đến vụ án hình sự. 3. Vật chứng phải được thu giữ, niêm phong, bảo quản theo quy định của Bộ luật này.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Vật chứng có thể là hung khí, công cụ, phương tiện phạm tội (dao, súng, ô tô dùng để thực hiện tội phạm); tài sản do phạm tội mà có (tiền, vàng, ngoại tệ chiếm đoạt); hoặc tài sản, đồ vật khác có liên quan đến vụ án (điện thoại, máy tính chứa dữ liệu phạm tội). Đặc điểm chung của vật chứng là phải có giá trị sử dụng và phải chứng minh được sự thật của vụ án hình sự.

Để bảo đảm tính toàn vẹn của vật chứng trong quá trình tố tụng, pháp luật quy định chặt chẽ về thu giữ, niêm phong, bảo quản. Đây là bước tiền đề quan trọng, bởi nếu vật chứng bị hư hỏng, thất thoát hoặc bị làm sai lệch thì việc xử lý vật chứng sau đó sẽ không còn cơ sở pháp lý.

Điều 90. Bảo quản vật chứng 1. Vật chứng phải được niêm phong, bảo quản tại cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân hoặc tại cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. 2. Vật chứng là tiền, kim loại quý, đá quý, ngoại tệ tự do chuyển đổi, giấy tờ có giá thì phải nộp vào tài khoản tạm giữ tại ngân hàng. 3. Vật chứng là hàng hoá dễ hư hỏng, dễ cháy, dễ nổ thì phải được bảo quản theo quy định của pháp luật. 4. Vật chứng là vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, chất độc, chất phóng xạ thì phải được bảo quản an toàn theo quy định của pháp luật. 5. Việc bảo quản vật chứng phải được lập thành biên bản và chịu sự kiểm tra của Viện kiểm sát nhân dân.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

Điều 90 BLTTHS 2015 thể hiện nguyên tắc bảo quản vật chứng phải an toàn, đúng quy trình và chịu sự kiểm sát của Viện kiểm sát. Đặc biệt, tiền, kim loại quý, ngoại tệ phải được nộp vào tài khoản tạm giữ tại ngân hàng, nhằm tránh thất thoát và bảo đảm vật chứng được xử lý đúng quy định khi vụ án kết thúc.

3. Các hình thức xử lý vật chứng

Theo Điều 106 BLTTHS 2015, vật chứng được xử lý theo sáu hình thức cơ bản, tùy thuộc vào tính chất và giá trị của vật chứng:

Thứ nhất, bán vật chứng và sung quỹ nhà nước. Đối với tiền, kim loại quý, đá quý, ngoại tệ tự do chuyển đổi, giấy tờ có giá, pháp luật quy định phải bán theo quy định của pháp luật, số tiền thu được sung quỹ nhà nước. Đây là hình thức xử lý phổ biến nhất đối với các loại vật chứng có giá trị kinh tế cao.

Thứ hai, tiêu hủy hàng hóa bị cấm lưu thông. Hàng hóa bị cấm lưu thông (ma túy, vũ khí bất hợp pháp, hàng giả, hàng cấm) không có giá trị sử dụng hợp pháp nên phải được tiêu hủy theo quy định, nhằm ngăn chặn chúng quay lại thị trường.

Thứ ba, xử lý theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Đối với hàng hóa, phương tiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước, việc xử lý được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, không áp dụng quy định của BLTTHS.

Thứ tư, giao cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý. Vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, chất độc, chất phóng xạ, chất dễ cháy, dễ nổ là những vật chứng nguy hiểm, cần được quản lý chặt chẽ nên phải giao cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Thứ năm, tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng. Đối với tài sản không còn giá trị sử dụng (hàng hóa hết hạn sử dụng, tài sản hư hỏng không thể sửa chữa), việc tiêu hủy là biện pháp phù hợp nhất.

Thứ sáu, trả lại cho chủ sở hữu. Tài sản thuộc diện phải trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp thì phải được trả lại, bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

4. Trả lại tài sản cho chủ sở hữu

Trả lại tài sản cho chủ sở hữu là hình thức xử lý vật chứng quan trọng nhất, thể hiện nguyên tắc bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp trong pháp luật hình sự. Khi vật chứng là tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức và không thuộc diện phải tịch thu, sung quỹ nhà nước thì phải được trả lại cho chủ sở hữu.

Điều 106 BLTTHS 2015 quy định rõ: "Vật chứng là tài sản thuộc diện phải trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp thì phải trả lại." Quy định này được áp dụng thống nhất trong cả ba trường hợp: vụ án kết thúc với bản án có hiệu lực pháp luật, vụ án bị đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án, và vụ án bị hủy để điều tra lại, xét xử lại.

Việc trả lại tài sản phải được thực hiện trên cơ sở xác định rõ chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp. Trong trường hợp tài sản có nhiều chủ sở hữu hoặc có tranh chấp về quyền sở hữu, cơ quan tố tụng phải giải quyết theo quy định của pháp luật dân sự trước khi trả lại tài sản.

Đối với bị can, bị cáo, nếu tài sản của họ không thuộc diện phải tịch thu sung quỹ nhà nước thì vẫn được trả lại, ngay cả khi họ bị kết án. Nguyên tắc này bảo đảm rằng việc xử lý hình sự không làm ảnh hưởng đến quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân đối với tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội.

5. Tịch thu sung quỹ nhà nước

Tịch thu sung quỹ nhà nước là hình thức xử lý vật chứng nhằm thu hồi tài sản do phạm tội mà có hoặc tài sản được sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Đây là biện pháp mang tính răn đe, đồng thời bảo đảm nhà nước không bị thất thoát tài sản do hành vi phạm tội gây ra.

Theo Điều 106 BLTTHS 2015, tiền, kim loại quý, đá quý, ngoại tệ tự do chuyển đổi, giấy tờ có giá thuộc vật chứng được bán theo quy định của pháp luật, số tiền thu được sung quỹ nhà nước. Đối với các loại vật chứng khác như hàng hóa, phương tiện vi phạm hành chính, việc xử lý được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Việc tịch thu sung quỹ nhà nước phải được thực hiện trên cơ sở bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Cơ quan thi hành án có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định xử lý vật chứng, bảo đảm số tiền, tài sản được nộp đúng vào quỹ nhà nước theo quy định.

Đối với tài sản do phạm tội mà có (tiền, vàng, ngoại tệ chiếm đoạt), nếu xác định được chủ sở hữu hợp pháp thì phải trả lại cho họ, không tịch thu sung quỹ nhà nước. Chỉ trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không có quyền yêu cầu trả lại thì tài sản mới được sung quỹ nhà nước.

6. Tiêu hủy vật chứng không có giá trị

Tiêu hủy là hình thức xử lý vật chứng áp dụng đối với hàng hóa bị cấm lưu thông và tài sản không có giá trị sử dụng. Đây là biện pháp cần thiết để ngăn chặn các vật chứng nguy hiểm, độc hại không tiếp tục gây hại cho xã hội.

Theo Điều 106 BLTTHS 2015, hàng hóa bị cấm lưu thông phải được tiêu hủy, bất kể chúng có giá trị kinh tế hay không. Ma túy, vũ khí bất hợp pháp, hàng giả, hàng cấm nhập khẩu là những vật chứng điển hình phải tiêu hủy. Việc tiêu hủy phải được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, có sự giám sát của Viện kiểm sát và đại diện chính quyền địa phương.

Đối với tài sản không có giá trị sử dụng (hàng hóa hết hạn sử dụng, tài sản hư hỏng không thể sửa chữa), việc tiêu hủy cũng là biện pháp phù hợp. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa "không có giá trị sử dụng" và "có giá trị sử dụng nhưng không thuộc diện phải trả lại" để tránh tiêu hủy nhầm tài sản còn giá trị.

Việc tiêu hủy vật chứng phải được lập thành biên bản, ghi rõ thời gian, địa điểm, phương thức tiêu hủy và những người tham gia. Biên bản tiêu hủy là tài liệu quan trọng, chứng minh việc xử lý vật chứng đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Lưu ý khi áp dụng

Khi áp dụng quy định về xử lý vật chứng, cần lưu ý một số vấn đề quan trọng:

Thứ nhất, việc xử lý vật chứng phải được thực hiện sau khi vụ án có kết quả tố tụng cuối cùng (bản án có hiệu lực pháp luật, quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án hoặc quyết định hủy vụ án). Trong quá trình tố tụng, vật chứng phải được bảo quản đúng quy định, không được xử lý trước thời hạn.

Thứ hai, chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp có quyền yêu cầu trả lại tài sản. Nếu cơ quan tố tụng không trả lại tài sản mà không có lý do chính đáng, cá nhân, tổ chức có quyền khiếu nại, kiến nghị theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, việc xử lý vật chứng phải được lập thành biên bản và giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Biên bản xử lý vật chứng là tài liệu quan trọng, cần được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Thứ tư, trong trường hợp vật chứng có tranh chấp về quyền sở hữu, cơ quan tố tụng phải phối hợp với Tòa án để giải quyết theo quy định của pháp luật dân sự trước khi xử lý vật chứng.

Thứ năm, việc xử lý vật chứng phải bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch, không để thất thoát tài sản nhà nước và không làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của cá nhân, tổ chức.

Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Mỗi vụ án hình sự có những tình tiết cụ thể khác nhau, việc xử lý vật chứng cần được xem xét dựa trên thực tế của vụ việc và quy định pháp luật tại thời điểm xảy ra. Để được tư vấn chi tiết về xử lý vật chứng trong vụ án hình sự, vui lòng liên hệ Công ty Luật Minh Bạch để được hỗ trợ bởi đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp