Di sản không có người nhận thừa kế: xử lý và thời điểm xác định | Công ty Luật Minh Bạch

Di sản không có người nhận thừa kế: xử lý và thời điểm xác định

Thừa kế & di chúc · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09

Điều 622. Tài sản không có người nhận thừa kế Trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Khái niệm tài sản không có người nhận thừa kế

Theo quy định tại Điều 622 Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13), tài sản không có người nhận thừa kế là toàn bộ hoặc phần tài sản của người chết không có người thừa kế theo pháp luật, không có người thừa kế theo di chúc hợp pháp, hoặc tất cả người thừa kế đều từ chối nhận thừa kế theo quy định của pháp luật.

Loại tài sản này phát sinh trong các trường hợp cụ thể sau:

  • Người chết không có người thừa kế theo pháp luật (không có vợ/chồng, con, cha mẹ, anh chị em ruột, ông bà, cháu ruột; hoặc những người này đều từ chối nhận thừa kế, không có khả năng nhận thừa kế, hoặc bị tước quyền thừa kế theo quy định pháp luật);
  • Người chết có di chúc hợp pháp nhưng không có người nhận thừa kế theo di chúc (di chúc vô hiệu, người được chỉ định thừa kế theo di chúc từ chối nhận, chết trước người lập di chúc, bị tước quyền thừa kế theo di chúc);
  • Tất cả người thừa kế theo pháp luật và theo di chúc đều từ chối nhận thừa kế.

Ví dụ thực tiễn: Ông Nguyễn Văn A chết năm 2024 không có vợ, con, cha mẹ, anh chị em, ông bà, cháu ruột, không lập di chúc, không có người nào khác đủ điều kiện nhận thừa kế theo quy định pháp luật. Toàn bộ tài sản của ông A gồm 1 căn nhà và 500 triệu đồng tiền tiết kiệm thuộc loại tài sản không có người nhận thừa kế. Theo Điều 622 BLDS 2015, tài sản này thuộc về Nhà nước, trừ trường hợp tài sản thuộc sở hữu của tập thể, tộc người, tôn giáo, cơ sở tôn giáo thì thuộc về chủ sở hữu tập thể, tộc người, tôn giáo, cơ sở tôn giáo đó.

2. Thời điểm xác định tài sản không có người nhận thừa kế

Thời điểm xác định tài sản không có người nhận thừa kế được quy định tại khoản 1 Điều 622 Bộ luật Dân sự 2015 là thời điểm mở thừa kế, tức là thời điểm người để lại di sản chết, hoặc được Tòa án tuyên bố đã chết theo quy định của pháp luật.

Tại thời điểm này, cơ quan có thẩm quyền tiến hành kiểm tra, xác định danh sách người thừa kế theo di chúc và theo pháp luật. Nếu không có người thừa kế hợp lệ, hoặc tất cả người thừa kế từ chối nhận thừa kế mà không có người thay thế, toàn bộ di sản của người để lại được xác định là không có người nhận thừa kế kể từ thời điểm mở thừa kế.

Ví dụ thực tiễn: Ông B chết ngày 15/8/2024, không để lại di chúc, không có người thừa kế theo pháp luật (không có vợ, con, cha mẹ, anh chị em ruột). Tại thời điểm mở thừa kế (15/8/2024), cơ quan có thẩm quyền xác nhận tình trạng không có người nhận thừa kế, toàn bộ tài sản của ông B được xác định là thuộc về Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 622 Bộ luật Dân sự 2015 kể từ thời điểm này, bất kể thủ tục quản lý tài sản được hoàn thành vào thời điểm sau.

3. Thủ tục bàn giao, quản lý

Di sản không có người nhận thừa kế thuộc diện quản lý của Nhà nước theo Điều 622 Bộ luật Dân sự 2015. Khi không tìm được người thừa kế hoặc người thừa kế từ bỏ quyền, tài sản được chuyển sang sở hữu toàn dân.

Thủ tục bàn giao: Theo Điều 622, người đang giữ di sản có nghĩa vụ bảo quản, giữ gìn và bàn giao tài sản cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cụ thể, khi phát hiện di sản không có người nhận, người quản lý di sản (thường là cá nhân đang chiếm hữu hợp pháp, tổ chức tín dụng đang giữ tài sản, hoặc UBND cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người chết) phải thông báo cho cơ quan công chứng hoặc Tòa án để xác nhận tình trạng di sản. Sau đó, tài sản được bàn giao cho UBND cấp huyện hoặc cơ quan tài chính cùng cấp để quản lý theo quy định về tài sản công.

Quản lý di sản: Trong quá trình chờ xử lý, người đang giữ tài sản phải thực hiện nghĩa vụ bảo quản theo nguyên tắc trung thực, thiện chí (Điều 3 BLDS 2015). Nếu tài sản bị hư hỏng, mất mát do lỗi quản lý, người giữ phải bồi thường. Ví dụ thực tiễn: Trường hợp ông A qua đời không có vợ con, cha mẹ, anh chị em ruột và không để lại di chúc, căn hộ của ông sẽ được UBND phường nơi ông cư trú lập biên bản, phối hợp với công chứng viên xác nhận, sau đó bàn giao cho Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện quản lý, cho thuê hoặc xử lý theo quy định pháp luật về tài sản công.

Thời điểm chuyển quyền sở hữu: Quyền sở hữu di sản chuyển sang Nhà nước kể từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định công nhận di sản không có người thừa kế. Trước thời điểm đó, người đang giữ tài sản vẫn phải chịu trách nhiệm bảo quản.

4. Xử lý tài sản thuộc kho của nhà nước

Điều 622 Bộ luật Dân sự 2015 quy định tài sản không có người thừa kế sẽ thuộc về Nhà nước. Nguyên tắc xử lý tài sản thuộc kho của nhà nước được thực hiện theo trình tự chặt chẽ, đảm bảo quyền lợi của cộng đồng và tuân thủ nguyên tắc quản lý tài sản công.

Theo quy định tại Điều 622, khi di sản không có người thừa kế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ thực hiện các bước sau: Thứ nhất, xác nhận di sản không có người thừa kế thông qua thủ tục do pháp luật quy định. Thứ hai, tài sản được chuyển giao cho cơ quan nhà nước quản lý theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản công. Thứ ba, tài sản sẽ được sử dụng vào mục đích công cộng hoặc phục vụ lợi ích quốc gia theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Ví dụ thực tiễn, trường hợp một người qua đời không để lại di chúc và không có người thừa kế theo pháp luật, toàn bộ tài sản bao gồm bất động sản, động sản và các quyền tài sản khác sẽ được chuyển cho Nhà nước quản lý. Cơ quan nhà nước sẽ thực hiện thủ tục nhận tài sản, lập biên bản và quản lý tài sản theo quy định của pháp luật.

Thời điểm xác định tài sản thuộc kho của nhà nước là thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quyết định tiếp nhận tài sản. Quyết định này phải được ban hành sau khi đã hoàn tất các thủ tục xác nhận không có người thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Việc xử lý tài sản thuộc kho của nhà nước phải tuân thủ nguyên tắc công khai, minh bạch và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan. Nhà nước có trách nhiệm quản lý, sử dụng tài sản này một cách hiệu quả, phục vụ lợi ích cộng đồng và phát triển kinh tế - xã hội.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13) - Điều 622
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.
📞 💬 WhatsApp