Điều 57. Thời điểm chấm dứt hôn nhân và trách nhiệm gửi bản án, quyết định ly hôn 1. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. 2. Tòa án đã giải quyết ly hôn phải gửi bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch; hai bên ly hôn; cá nhân, cơ quan, tổ chức khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các luật khác có liên quan.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Thời điểm quan hệ hôn nhân chấm dứt khi ly hôn được quy định rõ tại Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, với hai trường hợp áp dụng khác nhau tùy thuộc vào thủ tục ly hôn.
Thứ nhất, đối với ly hôn có tranh chấp, quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày Tòa án ban hành bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật. Thời điểm này được xác định khi bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định, hoặc đã được xử lý kháng cáo, kháng nghị và có bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực. Ví dụ thực tiễn: Ông Nguyễn Văn A và bà Trần Thị B ly hôn có tranh chấp về tài sản chung, Tòa án tuyên án sơ thẩm ngày 10/7/2024, hai bên không kháng cáo, bản án có hiệu lực ngày 25/7/2024 thì quan hệ hôn nhân của họ chấm dứt kể từ ngày 25/7/2024, không phải từ ngày tòa tuyên án sơ thẩm hay ngày ông A nộp đơn ly hôn.
Thứ hai, đối với ly hôn không có tranh chấp, quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký ly hôn ghi trong Sổ đăng ký hộ tịch. Ví dụ: hai vợ chồng tự nguyện ly hôn, không có tranh chấp về con, tài sản, nộp hồ sơ tại UBND xã ngày 5/8/2024, ngày đăng ký ly hôn ghi trong sổ hộ tịch là ngày 7/8/2024 thì quan hệ hôn nhân chấm dứt từ ngày 7/8/2024.
Thời điểm chấm dứt hôn nhân này có ý nghĩa pháp lý quan trọng: là căn cứ xác định thời điểm chia tài sản chung, thời điểm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng, thời điểm xác định quyền thừa kế của các bên liên quan. Nếu xác định sai thời điểm chấm dứt hôn nhân, có thể dẫn đến tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên sau ly hôn.
Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (52/2014/QH13) quy định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của Tòa án trong việc thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã về việc giải quyết ly hôn. Cụ thể, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, Tòa án phải gửi bản án, quyết định ly hôn cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi vợ hoặc chồng đăng ký kết hôn.
Mục đích chính của quy định này là cập nhật tình trạng hôn nhân vào Sổ đăng ký kết hôn, đảm bảo cơ sở dữ liệu hộ tịch phản ánh chính xác thực tế quan hệ pháp lý của công dân. Đây là bước hành chính bắt buộc để chấm dứt hiệu lực pháp lý của giấy chứng nhận kết hôn trước đó.
Ví dụ thực tiễn: Khi Tòa án nhân dân quận Ba Đình ban hành bản án xử ly hôn cho vợ chồng ông A và bà B (đăng ký kết hôn tại phường Cống Vị), Chánh án Tòa án có trách nhiệm chuyển bản án đến UBND phường Cống Vị. Nếu Tòa án chậm trễ hoặc không thực hiện việc gửi bản án, UBND phường sẽ không thể cập nhật Sổ hộ tịch, dẫn đến việc ông A hoặc bà B gặp khó khăn khi muốn đăng ký kết hôn mới hoặc thực hiện các giao dịch dân sự khác cần xác nhận tình trạng độc thân.
Ngoài ra, khoản 2 Điều 57 cũng nhấn mạnh trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc phối hợp. Việc gửi bản án phải được thực hiện bằng văn bản chính thức, kèm theo thông báo về sự thay đổi tình trạng hôn nhân. Nếu Tòa án vi phạm thời hạn 03 ngày, tùy mức độ có thể bị xem xét trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật về tố tụng.
Tóm lại, nghĩa vụ gửi bản án ly hôn là biện pháp kỹ thuật pháp lý quan trọng, bảo đảm sự đồng bộ giữa quyết định tư pháp với quản lý hộ tịch, quyền lợi chính đáng của đương sự và trật tự pháp luật gia đình.
Theo quy định tại Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, hôn nhân chấm dứt từ ngày bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Hậu quả trực tiếp liên quan đến đăng ký kết hôn là cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm ghi chú thông tin chấm dứt hôn nhân vào sổ đăng ký kết hôn của hai bên, căn cứ vào bản án ly hôn đã có hiệu lực hoặc quyết định đã được chứng thực hợp lệ của Tòa án.
Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 57, vợ chồng sau khi ly hôn có quyền thực hiện các thủ tục thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật hộ tịch, bao gồm cả việc thay đổi họ, tên nếu có yêu cầu hợp pháp. Ví dụ thực tiễn: bà Nguyễn Thị A và ông Trần Văn B ly hôn, bản án ly hôn của Tòa án nhân dân quận có hiệu lực ngày 15/8/2024. Từ ngày này, hôn nhân của hai bên chấm dứt, cơ quan đăng ký hộ tịch phường ghi chú vào sổ đăng ký kết hôn của hai người. Nếu bà A muốn đổi họ trinh thành họ mẹ là "Lê Thị A" theo quy định pháp luật, bà có quyền nộp hồ sơ đến cơ quan hộ tịch để đăng ký thay đổi hộ tịch mà không bị ràng buộc bởi họ chồng đã chấm dứt.
Trách nhiệm gửi bản án ly hôn có hiệu lực đến cơ quan đăng ký hộ tịch thuộc về Tòa án đã ra bản án, theo quy định của Luật Hộ tịch 2014. Nếu Tòa án không thực hiện gửi bản án, vợ chồng có quyền nộp bản án đã được chứng thực hợp lệ đến cơ quan đăng ký hộ tịch để yêu cầu thực hiện ghi chú chấm dứt hôn nhân, đảm bảo quyền lợi về hộ tịch của các bên được thực hiện đúng quy định pháp luật.
Thời điểm chấm dứt hôn nhân trong các vụ ly hôn do Tòa án giải quyết được xác định theo quy định tại Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, không phụ thuộc vào ngày nộp đơn, ngày ra tòa hòa giải hay ngày Tòa án ra bản án sơ thẩm.
Cụ thể, đối với vụ ly hôn có tranh chấp, hôn nhân chỉ chấm dứt kể từ ngày Tòa án công bố bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật. Nếu một trong các đương sự kháng cáo, thời điểm chấm dứt hôn nhân sẽ là ngày bản án phúc thẩm có hiệu lực. Ví dụ: Ông A nộp đơn ly hôn tháng 1/2025, Tòa án ra bản án sơ thẩm tháng 4/2025, bà B kháng cáo, bản án phúc thẩm có hiệu lực tháng 7/2025 thì hôn nhân của hai người chỉ chấm dứt từ tháng 7/2025. Nếu ông A kết hôn lại với người khác trước tháng 7/2025, hành vi này bị xử lý vi phạm hành chính về tội kết hôn khi còn có vợ/chồng theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm gửi bản án, Tòa án có nghĩa vụ gửi bản án, quyết định ly hôn cho các đương sự, cơ quan đăng ký hộ tịch nơi đã đăng ký kết hôn để tiến hành ghi chú ly hôn vào sổ hộ tịch theo quy định của Luật Hộ tịch 2014. Đương sự cần theo dõi việc gửi bản án để kịp thời làm thủ tục ghi chú ly hôn, tránh tình trạng hôn nhân vẫn được ghi nhận là tồn tại trên giấy tờ hộ tịch, ảnh hưởng đến các quan hệ pháp lý khác như thừa kế, chuyển nhượng tài sản chung, đăng ký kết hôn lại hay quyền nuôi con.
Trường hợp vợ chồng ly hôn bằng cách tự nguyện hòa giải thành không có yêu cầu xác nhận của Tòa án, hôn nhân chấm dứt kể từ ngày ký biên bản hòa giải ly hôn; trường hợp ly hôn tại cơ quan đăng ký hôn nhân thì chấm dứt kể từ ngày cơ quan này ghi vào sổ đăng ký hôn nhân việc ly hôn của vợ chồng. Đây là các trường hợp thời điểm chấm dứt hôn nhân xảy ra sớm hơn so với vụ ly hôn do Tòa án giải quyết có tranh chấp.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.