Quyền đối với giống cây trồng: điều kiện bảo hộ | Công ty Luật Minh Bạch

Quyền đối với giống cây trồng: điều kiện bảo hộ

Sở hữu trí tuệ · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Đối tượng được bảo hộ
  2. Tính mới của giống cây trồng
  3. Tính khác biệt, đồng nhất, ổn định
  4. Thủ tục đăng ký

Điều 158. Điều kiện chung đối với giống cây trồng được bảo hộ283 Giống cây trồng được bảo hộ là giống cây trồng được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển, có tính mới, tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định và có tên phù hợp.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Đối tượng được bảo hộ

Đối tượng được bảo hộ quyền đối với giống cây trồng là giống cây trồng mới đáp ứng đủ bốn điều kiện: tính mới, tính đặc biệt, tính đồng nhất và tính ổn định, theo quy định tại Điều 158 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH.

Tính mới được quy định tại Điều 159: giống chưa được cung cấp cho người thứ ba trước ngày nộp đơn đăng ký bảo hộ, hoặc không được cung cấp trước ngày nộp đơn với thời hạn không quá 01 năm đối với giống do chính người nộp đơn hoặc người được họ cho phép cung cấp. Ví dụ thực tiễn: giống lúa mới lai tạo ra, chưa bán hạt cho nông dân trước khi nộp đơn đăng ký thì đáp ứng điều kiện này; ngược lại, nếu đã cung cấp hạt rộng rãi cho cộng đồng trước ngày nộp đơn 02 năm thì không đủ điều kiện.

Tính đặc biệt theo Điều 160: giống không thể dễ dàng tạo ra từ một giống cây trồng đã có, khác biệt rõ ràng về một hoặc nhiều đặc điểm quan trọng so với giống đã có tại thời điểm nộp đơn. Ví dụ: giống cà chua mới có khả năng chịu hạn, quả to hơn 30% so với giống cà chua phổ biến đang trồng, không thể tạo ra từ lai giống thông thường thì đáp ứng điều kiện này.

Tính đồng nhất theo Điều 161: giống có đặc điểm tương tự về kiểu hình hoặc cấu trúc gen, không có sự khác biệt bất thường giữa các cá thể của cùng một giống. Ví dụ: hạt giống lúa giống mới gieo ra, cây trồng đều có chiều cao, màu lá, thời gian ra hoa giống nhau thì đạt yêu cầu.

Tính ổn định theo Điều 162: giống giữ được đặc điểm ban đầu sau mỗi chu kỳ nhân giống, hoặc sau mỗi chu kỳ nhân giống đặc biệt nếu có quy định. Ví dụ: giống bắp mới trồng 03 vụ liên tiếp, vẫn giữ được đặc điểm quả to, kháng sâu bệnh như ban đầu thì đáp ứng.

Chỉ giống cây trồng đáp ứng đủ bốn điều kiện trên mới là đối tượng được cấp Giấy chứng nhận bảo hộ giống cây trồng, chủ sở hữu quyền có độc quyền khai thác, cho phép người khác khai thác và ngăn chặn các hành vi sử dụng trái phép giống cây trồng.

2. Tính mới của giống cây trồng

Theo quy định tại Điều 159 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH, tính mới của giống cây trồng là điều kiện tiên quyết để được công nhận quyền đối với giống cây trồng. Cụ thể, giống cây trồng được coi là có tính mới nếu trước ngày nộp đơn đăng ký bảo hộ, giống đó chưa được cung cấp công khai cho người khác bởi chủ sở hữu quyền, người được chủ sở hữu cho phép sử dụng hoặc bên thứ ba có nguồn gốc hợp pháp từ các chủ thể trên.

Luật quy định rõ các trường hợp giống cây trồng không bị coi là mất tính mới dù đã được cung cấp công khai trước ngày nộp đơn, bao gồm: (1) Trong vòng 01 năm trước ngày nộp đơn, giống được người có quyền đăng ký hoặc người được cho phép sử dụng cung cấp công khai; (2) Trong vòng 01 năm trước ngày nộp đơn, giống được trưng bày tại hội chợ, triển lãm chuyên ngành về giống cây trồng bởi người có quyền đăng ký hoặc người được cho phép sử dụng.

Ví dụ thực tiễn: Ông A phát triển giống lúa mới, trưng bày tại Hội chợ Nông nghiệp Quốc tế 10 tháng trước ngày nộp đơn đăng ký bảo hộ. Trường hợp này giống lúa vẫn giữ tính mới, đủ điều kiện nộp đơn đăng ký. Ngược lại, nếu ông B đã bán giống cà chua mới cho 3 công ty nông nghiệp và công bố thông tin trên báo chí chuyên ngành 2 năm trước ngày nộp đơn, giống cà chua này đã mất tính mới, không được công nhận quyền bảo hộ.

Tính mới của giống cây trồng đảm bảo quyền đăng ký bảo hộ thuộc về người đầu tiên phát triển và công bố hợp pháp giống cây trồng mới, tránh tình trạng đăng ký bảo hộ các giống đã phổ biến trên thị trường, gây tranh chấp về quyền sở hữu sau này.

3. Tính khác biệt, đồng nhất, ổn định

Tính khác biệt, đồng nhất, ổn định là ba tiêu chí bắt buộc để giống cây trồng được công nhận bảo hộ quyền, quy định tại Điều 158 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH.

Theo Điều 159, tính khác biệt yêu cầu giống cây trồng dễ phân biệt rõ ràng với bất kỳ giống đã được bảo hộ quyền hoặc công nhận rõ ràng tại thời điểm nộp đơn đăng ký bảo hộ. Ví dụ, giống lúa mới có khả năng chịu ngập mặn phải khác biệt rõ ràng về đặc điểm di truyền và biểu hiện ngoại hình so với giống lúa đã được bảo hộ như IR64, không thể nhầm lẫn khi trồng cùng điều kiện.

Điều 160 quy định tính đồng nhất là giống cây trồng có đặc điểm di truyền ổn định, giống nhau qua các thế hệ hoặc chu kỳ nhân giống. Điều này đảm bảo người trồng nhận được sản phẩm đồng đều, phù hợp với kỳ vọng về năng suất, chất lượng.

Theo Điều 161, tính ổn định yêu cầu đặc điểm của giống được giữ nguyên qua các thế hệ nhân giống, không thay đổi đáng kể ngay cả khi điều kiện nhân giống thay đổi. Ví dụ, giống cà chua chống virus sau nhiều lần thu hoạch lấy hạt giống để gieo vẫn giữ nguyên khả năng chống virus, không bị suy giảm đặc tính.

Các tiêu chí này được xác minh thông qua kiểm tra thực nghiệm theo quy định Điều 162, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện trước khi cấp văn bằng bảo hộ quyền đối với giống cây trồng.

4. Thủ tục đăng ký

Điều kiện bảo hộ quyền đối với giống cây trồng tại Việt Nam yêu cầu chủ thể quyền phải thực hiện thủ tục đăng ký bắt buộc. Theo quy định tại Điều 158 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền đối với giống cây trồng chỉ được bảo hộ khi giống cây trồng đó được công nhận là giống cây trồng mới, có khả năng phân biệt, đồng nhất và ổn định.

Thủ tục đăng ký được thực hiện tại Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Hồ sơ đăng ký bao gồm: đơn đăng ký, mô tả giống cây trồng, bằng chứng về tính mới, tính phân biệt, tính đồng nhất và ổn định, cùng các tài liệu chứng minh quyền nộp đơn. Theo Điều 159 Luật Sở hữu trí tuệ, người nộp đơn phải chứng minh giống cây trồng chưa được thương mại hóa trước ngày nộp đơn tại Việt Nam quá mười hai tháng hoặc tại nước ngoài quá sáu năm (đối với cây thân gỗ) và bốn năm (đối với các loại cây khác).

Quy trình thẩm định bao gồm hai giai đoạn: thẩm định hình thức và thẩm định nội dung. Điều 160 Luật Sở hữu trí tuệ quy định thời hạn thẩm định hình thức là hai tháng kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ. Thẩm định nội dung kéo dài mười hai tháng và có thể gia hạn thêm sáu tháng nếu cần thiết. Trong quá trình thẩm định, người nộp đơn có quyền bổ sung, sửa đổi hồ sơ theo Điều 161 Luật Sở hữu trí tuệ.

Ví dụ thực tiễn, khi một tổ chức nghiên cứu phát triển giống lúa mới có năng suất cao hơn 15% so với giống hiện có, họ phải nộp hồ sơ đăng ký kèm kết quả thử nghiệm tại ít nhất ba vùng sinh thái khác nhau trong ba vụ liên tiếp. Nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện, Cục sẽ cấp Giấy chứng nhận đăng ký giống cây trồng với thời hạn bảo hộ mười lăm năm đối với cây thân gỗ và hai mươi lăm năm đối với các loại cây khác theo Điều 162 Luật Sở hữu trí tuệ.

Việc tuân thủ thủ tục đăng ký không chỉ đảm bảo quyền lợi hợp pháp của chủ thể quyền mà còn góp phần khuyến khích nghiên cứu, phát triển giống cây trồng mới, phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Luật Sở hữu trí tuệ (hợp nhất 67/VBHN-VPQH) - Điều 158, 159, 160, 161, 162
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp