Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: Thuận tình ly hôn | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: Thuận tình ly hôn

Tố tụng dân sự & hành chính · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Nội dung Điều 55 Luật HNGĐ 2014
  2. Khái niệm ly hôn thuận tình
  3. Điều kiện Tòa án công nhận thuận tình ly hôn
  4. Thỏa thuận về tài sản và con chung
  5. Thủ tục ly hôn thuận tình
  6. Lưu ý khi thỏa thuận ly hôn

Điều 55. Thủ tục từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án 1. Việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa, phiên họp phải được lập thành văn bản, trong đó nêu rõ lý do và căn cứ của việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng. 2. Việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc đề nghị thay đổi những người quy định tại khoản 1 Điều này tại phiên tòa, phiên họp phải được ghi vào biên bản phiên tòa, phiên họp.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Nội dung Điều 55 Luật HNGĐ 2014

Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định điều kiện và thủ tục giải quyết thuận tình ly hôn, trong đó hai bên vợ chồng cùng có yêu cầu ly hôn, tự nguyện, đã thỏa thuận về chế độ tài sản, trách nhiệm nuôi con, không có yêu cầu về bảo vệ quyền lợi của con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Trường hợp hai bên đã thỏa thuận về tài sản, nuôi con nhưng một bên đổi ý trước khi Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn, Tòa án giải quyết theo quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Nếu hai bên có yêu cầu bảo vệ quyền lợi con nhưng thỏa thuận phù hợp với lợi ích của con, Tòa án cũng công nhận thuận tình ly hôn. Căn cứ Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Tòa án giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình trên nguyên tắc tôn trọng ý chí tự do, bình đẳng của các bên, bảo vệ quyền lợi chính đáng của phụ nữ và trẻ em. Ví dụ thực tiễn: hai vợ chồng kết hôn 4 năm, có một con 2 tuổi, hai bên thỏa thuận con nuôi do mẹ trực tiếp, cha cấp dưỡng 5 triệu đồng/tháng, chia toàn bộ tài sản chung là 800 triệu đồng, mỗi bên hưởng 400 triệu, không có tranh chấp nào khác, cùng nộp đơn xin ly hôn thuận tình lên Tòa án. Khi hai bên chứng minh được thỏa thuận tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, thỏa thuận nuôi con phù hợp với lợi ích của trẻ, Tòa án sẽ ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn, hai bên chính thức giải tán hôn nhân.

2. Khái niệm ly hôn thuận tình

Khái niệm ly hôn thuận tình

Ly hôn thuận tình là việc vợ chồng tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc chấm dứt quan hệ hôn nhân, hai bên cùng đồng ý và tự nguyện thực hiện các nghĩa vụ của mình sau khi ly hôn. Căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (Luật số 52/2014/QH13), vợ chồng có quyền tự thỏa thuận về việc ly hôn; hình thức, trình tự, thủ tục cũng do hai bên thỏa thuận và được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Về bản chất pháp lý, ly hôn thuận tình là sự thỏa thuận pháp luật có điều kiện. Điều kiện tiên quyết là sự đồng thuận của cả hai vợ chồng, không bên nào bị ép buộc; điều kiện về năng lực là vợ chồng phải đủ tuổi kết hôn và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; điều kiện về hình thức là thỏa thuận phải được lập thành văn bản, có chữ ký của vợ chồng, có xác nhận của cơ quan đăng ký hộnhânh (UBND cấp xã) theo Điều 40 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Văn bản thỏa thuận này là giấy tờ của việc đăng ký ly hôn và là căn cứ để Tòa án nhân dân cấp Giấy chứng nhận hôn nhân.

Điểm khác biệt căn bản giữa ly hôn thuận tình và ly hôn theo yêu cầu của một bên quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: với ly hôn thuận tình, tiến trình đoạn tố tụng được rút ngắn tối đa, không mở phiên xét xử, không có sự tham gia của thẩm phán với vai trò hòa giải, thời hạn giải quyết ngắn hơn và chi phí tố tụng thấp hơn. Ngược lại, khi vợ chồng không thể thỏa thuận được thì ly hôn theo yêu cầu của một bên là con đường tố tụng bắt buộc để chấm dứt quan hệ hôn nhân.

Về tính chất của quan hệ tố tụng, ly hôn thuận tình vẫn thuộc lĩnh vực tranh chấp hôn nhân, gia đình mà Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 bảo đảm giải quyết. Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định: thẩm quyền giải quyết các vụ án, việc về hôn nhân, gia đình thuộc Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ một số việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án cấp cao. Căn cứ Điều 1 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, trình tự, thủ tục khởi kiện và thủ tục yêu cầu dân sự về hôn nhân, gia đình được thực hiện tại Tòa án nhằm bảo đảm việc giải quyết nhanh chóng, chính xác, công minh, đúng pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của vợ, chồng và con cái.

Ví dụ thực tiễn: Vợ chồng Nguyễn Văn A và Trần Thị B cùng nhau viết thỏa thuận ly hôn tại nhà, hai người cùng ký, có xác nhận của UBND xã và chủ tịch ủy ban nhân dân xã. Trong văn bản, hai bên thống nhất: hai người tự nguyện chấm dứt quan hệ vợ chồng; con cái tự nguyện theo mẹ và mỗi người thanh toán một nửa chi phí cấp dưỡng; hai bên không còn yêu cầu bồi thường. Khi đăng ký, cơ quan đăng ký hộnhânh lập hồ sơ, giải quyết thủ tục trong thời hạn quy định của pháp luật, bên đăng ký ly hôn vẫn có trách nhiệm bảo đảm tình hình của con chưa thành niên, trường hợp con dưới 15 tuổi mà vợ chồng không thống nhất được ai trực tiếp nuôi dưỡng thì Tòa án nhân dân quyết định.

Như vậy, ly hôn thuận tình là hình thức ly hôn mang tính dân sự, tự nguyện, ưu tiên hòa giải, nhằm tôn trọng ý chí tự do của vợ chồng, hạn chế xung đột pháp lý và bảo đảm lợi ích tốt nhất của con chưa thành niên.

3. Điều kiện Tòa án công nhận thuận tình ly hôn

Thuận tình ly hôn là hình thức ly hôn do cả hai bên tự nguyện thỏa thuận, không cần Tòa án công nhận một bên có tội. Tuy nhiên, quan hệ hôn nhân là quan hệ pháp luật có tính chất công cộng, gắn với quyền lợi của con cái và gia đình, nên Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 vẫn bắt buộc thủ tục công nhận tại Tòa án.

Theo Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, vợ chồng do hai bên tự nguyện yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn. Điều khoản này xác lập hai điều kiện cơ bản:

  • Về mặt chủ thể: phải có đầy đủ hai bên vợ, chồng cùng yêu cầu. Một bên đơn phương yêu cầu ly hôn thì thuộc hình thức ly hôn theo yêu cầu của một bên tại Điều 56, cần Tòa án xét xử về tình trạng hôn nhân, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, lý do đòi ly hôn và phương cách giải quyết.
  • Về mặt tình thần: phải hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, đe dọa hay lừa dối. Ý chí thuận tình là điều kiện cốt lõi, quyết định tính chất thiện chí của việc chấm dứt hôn nhân.

Thủ tục này thuộc loại việc dân sự theo Điều 1 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Vì vậy, vụ việc được giải quyết theo trình tự, thủ tục yêu cầu, không áp dụng trình tự khởi kiện, không phải nộp đơn tố cáo, không áp dụng thủ tục hòa giải bắt buộc.

Điểm cần lưu ý về thẩm quyền: yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn do Tòa án nhân dân cấp xã, phường nơi một bên trong hai bên cư trú thụ lý theo tố tụng; thẩm quyền của các cấp Tòa án được xác định theo địa bàn cư trú của bên đương sự, do đó Tòa án cấp huyện chỉ thụ lý khi thuộc địa bàn của mình.

Về thời hạn, vợ chồng phải làm đơn trong sáu tháng kể từ ngày có văn bản chấm dứt hôn nhân trước. Nếu vợ chồng có con chung dưới 18 tuổi, Tòa án chỉ giải quyết khi bảo đảm được quyền lợi của con; với trường hợp con từ đủ 18 tuổi trở lên mà vẫn chưa thỏa thuận về việc nuôi dưỡng, Tòa án sẽ giải quyết trước vấn đề đó rồi mới ra quyết định công nhận ly hôn.

Ví dụ thực tiễn: Ông Nguyễn Văn A và bà Trần Thị B kết hôn năm 2015, có hai con chung. Năm 2022, hai vợ chồng không thể sống chung vì bất đồng chuyện tài chính và chăm sóc con. Hai bên tự nguyện thỏa thuận phân chia tài sản, không có bất đồng về việc nuôi dưỡng con, cùng nộp đơn lên Tòa án nhân dân phường nơi bà B cư trú. Tòa án tiến hành hòa giải, kiểm tra xác nhận ý chí tự nguyện của từng bên, xác định việc bảo đảm quyền lợi con chung, sau đó ra quyết định công nhận hai bên ly hôn thuận tình trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày xét xử sơ thẩm.

Ngược lại, nếu một bên vợ hoặc chồng không tự nguyện, hoặc bị ép buộc nộp đơn, yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn sẽ không được chấp nhận; bên còn lại phải chuyển sang thực hiện thủ tục ly hôn theo yêu cầu của một bên tại Điều 56. Cần lưu ý, các vấn đề về tài sản chung, cấp dưỡng con, nghĩa vụ cấp dưỡng với cha mẹ già không thuộc nội dung công nhận thuận tình ly hôn mà có thể được Tòa án giải quyết như vấn đề độc lập trong cùng hoặc vụ việc khác.

4. Thỏa thuận về tài sản và con chung

Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (52/2014/QH13) quy định điều kiện thuận tình ly hôn. Trong đó, thỏa thuận về tài sản và con chung là yếu tố bắt buộc để Tòa án công nhận ly hôn theo thủ tục này.

Cơ sở pháp lý: Theo Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, vợ chồng có quyền tự thỏa thuận về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ cấp dưỡng, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và con. Trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án giải quyết theo quy định.

Phân tích: Thỏa thuận về tài sản và con chung phải đáp ứng các yêu cầu: (1) Được lập thành văn bản; (2) Đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ, chồng và con; (3) Không vi phạm điều cấm của luật. Ví dụ thực tiễn: Vợ chồng A thỏa thuận ly hôn, thống nhất giao con chung 5 tuổi cho vợ nuôi, chồng cấp dưỡng 2 triệu đồng/tháng; tài sản nhà ở chung được bán, chia đôi. Thỏa thuận này phải được Tòa án xem xét, công nhận.

Thủ tục: Khi nộp đơn ly hôn thuận tình, vợ chồng phải nộp kèm thỏa thuận về tài sản và con chung. Tòa án sẽ kiểm tra tính hợp pháp của thỏa thuận. Nếu thỏa thuận hợp pháp, Tòa án ban hành quyết định công nhận ly hôn (Điều 212 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015). Nếu thỏa thuận vi phạm quyền lợi chính đáng của con, Tòa án có thể không công nhận và yêu cầu sửa đổi.

Lưu ý: Thỏa thuận về tài sản và con chung có hiệu lực pháp lý ngay khi được Tòa án công nhận. Trường hợp một bên vi phạm thỏa thuận, bên kia có quyền yêu cầu Tòa án thi hành theo quy định pháp luật.

5. Thủ tục ly hôn thuận tình

Thủ tục ly hôn thuận tình được pháp luật xác định là trình tự Tòa án giải quyết khi vợ, chồng cùng tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận được về việc chia tài sản, nợ chung, nuôi con. Căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, khi cả hai vợ chồng đều tự nguyện ly hôn, nếu xét thấy thật sự bền vững, không còn khả năng hàn gắn, Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được, Tòa án giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên theo Điều 56.

Về thẩm quyền, tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc trường hợp Tòa án giải quyết theo thủ tục vụ án dân sự (Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015). Vợ, chồng nộp đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn tại Tòa án có thẩm quyền, kèm theo bản chính giấy chứng nhận kết hôn, giấy khai sinh của con, giấy tờ về tài sản, nợ chung.

Ví dụ thực tiễn: vợ chồng kết hôn năm 2018, có một con chung 5 tuổi, đã tự thỏa thuận người vợ trực tiếp nuôi con, người chồng cấp dưỡng 3 triệu đồng/tháng, nhà ở thuộc sở hữu chung được chia một nửa cho mỗi bên. Hai bên cùng ký đơn, Tòa án tổ chức hòa giải, xác định thỏa thuận không vi phạm lợi ích hợp pháp của con, sau đó ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn.

Điểm cần lưu ý: nếu một bên không tự nguyện hoặc không thỏa thuận được về nuôi con, tài sản, Tòa án chuyển sang giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên (Điều 56); quyết định công nhận thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày ra, chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ thời điểm quyết định có hiệu lực.

6. Lưu ý khi thỏa thuận ly hôn

Thỏa thuận ly hôn phải đáp ứng đủ 3 điều kiện quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: tự nguyện của cả hai bên, đã giải quyết xong về nuôi con, cấp dưỡng và tài sản chung, không ảnh hưởng đến lợi ích của con và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan. Nếu thiếu một trong các điều kiện này, Tòa án sẽ không công nhận thuận tình ly hôn, mà giải quyết theo quy định tại Điều 56 về ly hôn theo yêu cầu của một bên, căn cứ Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về thẩm quyền giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình.

Thứ nhất, thỏa thuận về quyền nuôi con và cấp dưỡng phải ưu tiên lợi ích thiết thân của con, không được thỏa thuận từ bỏ quyền nuôi con để trốn trách nhiệm cấp dưỡng. Nếu thỏa thuận vi phạm lợi ích của con, Tòa án có quyền sửa đổi nội dung thỏa thuận theo quy định pháp luật.

Thứ hai, thỏa thuận phân chia tài sản chung phải rõ ràng, đầy đủ, không che giấu tài sản. Nếu có tài sản chung chưa được giải quyết trong thỏa thuận, một bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia sau khi ly hôn, căn cứ Điều 28 BLTDS 2015.

Thứ ba, sau khi Tòa án công nhận thuận tình ly hôn, nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận (ví dụ không giao tài sản theo phân chia, không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng), bên còn lại có quyền yêu cầu Tòa án buộc thực hiện hoặc sửa đổi nội dung thỏa thuận.

Ví dụ thực tiễn: Vợ chồng A và B ký thỏa thuận ly hôn, giao quyền nuôi con cho B, A không phải cấp dưỡng, phân chia tài sản chung 1 tỷ đồng, mỗi người 500 triệu đồng. Sau đó A phát hiện B còn có căn nhà trị giá 3 tỷ đồng là tài sản chung không được khai báo trong thỏa thuận. A có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia căn nhà này, mặc dù hai bên đã có thỏa thuận ly hôn trước đó.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (52/2014/QH13) - Điều 55 về thuận tình ly hôn
  • Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (52/2014/QH13) - Điều 56 về ly hôn theo yêu cầu của một bên
  • Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 - Điều 28 về tranh chấp hôn nhân gia đình
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp