Doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ, có lịch sử lâu đời trong hệ thống pháp luật doanh nghiệp Việt Nam. Đặc trưng cơ bản của loại hình này là chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình. Bài viết phân tích các Điều 188, 189 và 190 Luật Doanh nghiệp 2020 về đặc điểm, vốn đầu tư và quản lý doanh nghiệp tư nhân.
Điều 188. Doanh nghiệp tư nhân
1. Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
2. Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
3. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên hợp danh của công ty hợp danh.
4. Doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.
Điều 189. Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân
1. Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng ký. Chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vốn bằng Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và tài sản khác; đối với vốn bằng tài sản khác còn phải ghi rõ loại tài sản, số lượng và giá trị còn lại của mỗi loại tài sản.
2. Toàn bộ vốn và tài sản kể cả vốn vay và tài sản thuê được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.
3. Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc tăng hoặc giảm vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán. Trường hợp giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn vốn đầu tư đã đăng ký thì chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ được giảm vốn sau khi đã đăng ký với Cơ quan đăng ký kinh doanh.
Điều 190. Quản lý doanh nghiệp tư nhân
1. Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.
2. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc để quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh; trường hợp này, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân.
3. Chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật, đại diện cho doanh nghiệp tư nhân với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án, đại diện cho doanh nghiệp tư nhân thực hiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Nguồn: Toàn văn Điều 188-190 Luật Doanh nghiệp 2020 — Luật Minh Bạch
Khoản 1 Điều 188 định nghĩa doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Đặc trưng quan trọng nhất là chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn: khi tài sản của doanh nghiệp không đủ thanh toán nợ, chủ doanh nghiệp phải dùng tài sản riêng để trả nợ.
Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân. Đây là điểm khác biệt với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Về mặt pháp lý, doanh nghiệp tư nhân không tách bạch hoàn toàn khỏi chủ doanh nghiệp; tài sản của doanh nghiệp và tài sản của chủ doanh nghiệp có mối liên hệ chặt chẽ về trách nhiệm tài sản.
Khoản 2 Điều 188 quy định doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Quy định này xuất phát từ bản chất của loại hình doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ, không có cơ cấu vốn đa dạng như công ty cổ phần. Khoản 3 quy định mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân và không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh.
Khoản 1 Điều 189 quy định vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng ký. Chủ doanh nghiệp có nghĩa vụ đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vốn bằng Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và tài sản khác. Đối với vốn bằng tài sản khác, phải ghi rõ loại tài sản, số lượng và giá trị còn lại của mỗi loại tài sản.
Khác với vốn điều lệ của công ty trách nhiệm hữu hạn, vốn đầu tư của doanh nghiệp tư nhân không phải là mức cam kết góp trong thời hạn nhất định mà là tổng số vốn chủ doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động kinh doanh. Vốn này không được ghi nhận là cam kết góp vốn, do đó không có cơ chế xử lý thành viên không góp đủ vốn.
Khoản 2 Điều 189 yêu cầu toàn bộ vốn và tài sản, kể cả vốn vay và tài sản thuê được sử dụng vào hoạt động kinh doanh, phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính theo quy định. Khoản 3 cho phép chủ doanh nghiệp tăng hoặc giảm vốn đầu tư trong quá trình hoạt động, nhưng việc giảm vốn xuống thấp hơn vốn đã đăng ký chỉ được thực hiện sau khi đã đăng ký với Cơ quan đăng ký kinh doanh.
Khoản 1 Điều 190 quy định chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện nghĩa vụ tài chính khác. Đây là quyền quản lý tuyệt đối, không có cơ chế chia sẻ quyền quản lý như công ty có nhiều thành viên.
Mặc dù có toàn quyền quản lý, chủ doanh nghiệp tư nhân có thể thuê Giám đốc hoặc Tổng giám đốc để quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 190 nhấn mạnh: ngay cả khi thuê người quản lý, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân. Điều này thể hiện tính chất trách nhiệm vô hạn và không thể chuyển giao của chủ doanh nghiệp tư nhân.
Khoản 3 Điều 190 xác định chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp đại diện cho doanh nghiệp trước Trọng tài, Tòa án với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đây là quy định quan trọng về tư cách tố tụng của chủ doanh nghiệp tư nhân.
Trách nhiệm vô hạn là đặc trưng pháp lý quan trọng nhất và cũng là rủi ro lớn nhất của doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp phá sản hoặc không đủ tài sản thanh toán nợ, chủ doanh nghiệp có nghĩa vụ dùng tài sản cá nhân để trả nợ.
Trách nhiệm này khác biệt hoàn toàn với trách nhiệm hữu hạn của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn và cổ đông công ty cổ phần. Trong công ty trách nhiệm hữu hạn, thành viên chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp; trong công ty cổ phần, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số cổ phần đã góp. Với doanh nghiệp tư nhân, không có giới hạn trách nhiệm.
Hạn chế tại khoản 4 Điều 188 cũng cần lưu ý: doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần. Quy định này nhằm bảo đảm tính minh bạch và tránh xung đột lợi ích giữa trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân với tư cách thành viên của pháp nhân khác.
So với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân có ưu điểm là thủ tục thành lập đơn giản, chủ doanh nghiệp có toàn quyền quyết định, không phải chia sẻ lợi nhuận. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất là trách nhiệm vô hạn và không được phát hành chứng khoán để huy động vốn.
So với hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân có tư cách doanh nghiệp, được đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp và có thể tham gia các quan hệ kinh doanh với tư cách doanh nghiệp. Hộ kinh doanh có quy mô nhỏ hơn và chịu sự điều chỉnh của các quy định riêng về hộ kinh doanh.
Việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp cần cân nhắc nhiều yếu tố: quy mô hoạt động, nhu cầu huy động vốn, mức độ rủi ro tài sản cá nhân, số lượng người muốn tham gia. Với doanh nghiệp tư nhân, phù hợp với cá nhân muốn tự mình kinh doanh, chấp nhận rủi ro tài sản cá nhân và không có nhu cầu huy động vốn từ nhiều người.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.