Điều 455-456 BLDS 2015: Hợp đồng trao đổi tài sản | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 455-456 Bộ luật Dân sự 2015: Hợp đồng trao đổi tài sản

Hợp đồng · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09

Hợp đồng trao đổi tài sản là hình thức giao dịch trong đó các bên chuyển giao tài sản và quyền sở hữu cho nhau mà không dùng tiền làm phương tiện thanh toán chính. Đây là hợp đồng song vụ, có đền bù, được điều chỉnh bởi các Điều 455 và 456 Bộ luật Dân sự 2015. Bài viết phân tích khái niệm, hình thức, quyền và nghĩa vụ của các bên và vấn đề thanh toán giá trị chênh lệch.

Điều 455. Hợp đồng trao đổi tài sản

1. Hợp đồng trao đổi tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó các bên giao tài sản và chuyển quyền sở hữu đối với tài sản cho nhau.

2. Hợp đồng trao đổi tài sản phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký, nếu pháp luật có quy định.

3. Trường hợp một bên trao đổi cho bên kia tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình hoặc không được chủ sở hữu ủy quyền thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

4. Mỗi bên đều được coi là người bán đối với tài sản giao cho bên kia và là người mua đối với tài sản nhận về. Các quy định về hợp đồng mua bán từ Điều 430 đến Điều 439, từ Điều 441 đến Điều 449 và Điều 454 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng trao đổi tài sản.

Điều 456. Thanh toán giá trị chênh lệch

Trường hợp tài sản trao đổi chênh lệch về giá trị thì các bên phải thanh toán cho nhau phần chênh lệch đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Nguồn: Toàn văn Điều 455, 456 Bộ luật Dân sự 2015 — Luật Minh Bạch

1. Khái niệm hợp đồng trao đổi tài sản

Khoản 1 Điều 455 định nghĩa hợp đồng trao đổi tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó các bên giao tài sản và chuyển quyền sở hữu đối với tài sản cho nhau. Đặc trưng của hợp đồng này là tính chất "đổi vật lấy vật": mỗi bên vừa là bên giao tài sản vừa là bên nhận tài sản, không có bên nào chỉ đóng vai trò trả tiền.

Hợp đồng trao đổi tài sản là hợp đồng song vụ, trong đó nghĩa vụ của bên này gắn liền với quyền của bên kia. Các nghĩa vụ chính bao gồm giao tài sản đúng thỏa thuận, bảo đảm quyền sở hữu đối với tài sản giao và chịu trách nhiệm về chất lượng tài sản. Hợp đồng cũng mang tính chất có đền bù, vì mỗi bên nhận được lợi ích tương ứng từ bên kia.

Điểm quan trọng là mỗi bên đều được coi là người bán đối với tài sản giao cho bên kia và là người mua đối với tài sản nhận về. Do đó, các quy định về hợp đồng mua bán tài sản cũng được áp dụng đối với hợp đồng trao đổi tài sản, tạo nên sự thống nhất về nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu, chất lượng và trách nhiệm của các bên.

2. Hình thức của hợp đồng trao đổi tài sản

Khoản 2 Điều 455 quy định hợp đồng trao đổi tài sản phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực hoặc đăng ký nếu pháp luật có quy định. Quy định này có nghĩa là hình thức của hợp đồng phụ thuộc vào loại tài sản được trao đổi.

Đối với các tài sản mà pháp luật không yêu cầu hình thức đặc biệt, hợp đồng trao đổi có thể được giao kết bằng lời nói hoặc bằng văn bản thông thường. Tuy nhiên, đối với bất động sản như nhà ở, quyền sử dụng đất, hợp đồng trao đổi phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật về đất đai, nhà ở.

Trường hợp pháp luật yêu cầu đăng ký quyền sở hữu, các bên phải thực hiện thủ tục đăng ký để việc trao đổi có hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Việc bỏ qua các yêu cầu về hình thức có thể dẫn đến hợp đồng vô hiệu hoặc không được công nhận hiệu lực đầy đủ.

3. Trách nhiệm khi tài sản trao đổi không thuộc quyền sở hữu

Khoản 3 Điều 455 quy định trường hợp một bên trao đổi cho bên kia tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình hoặc không được chủ sở hữu ủy quyền thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Đây là quy định bảo vệ quyền lợi của bên ngay tình khi tài sản nhận được không đúng quyền sở hữu như cam kết.

Nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu đối với tài sản trao đổi xuất phát từ nguyên tắc chung của hợp đồng mua bán. Bên giao tài sản phải bảo đảm quyền sở hữu của mình đối với tài sản đó, không để người thứ ba có quyền đối với tài sản. Nếu tài sản đang tranh chấp với người thứ ba hoặc bị hạn chế quyền, bên giao phải thông báo cho bên nhận.

Bên bị thiệt hại có hai quyền: hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Thiệt hại bao gồm giá trị tài sản đã giao, chi phí phát sinh và khoản lợi đáng lẽ được hưởng. Việc thực hiện quyền này cần căn cứ vào chứng cứ về việc tài sản không thuộc quyền sở hữu của bên giao.

4. Áp dụng quy định về hợp đồng mua bán

Khoản 4 Điều 455 quy định các quy định về hợp đồng mua bán từ Điều 430 đến Điều 439, từ Điều 441 đến Điều 449 và Điều 454 Bộ luật Dân sự 2015 cũng được áp dụng đối với hợp đồng trao đổi tài sản. Đây là quy định dẫn chiếu quan trọng giúp lấp đầy các khoảng trống pháp lý và bảo đảm sự thống nhất của chế định hợp đồng.

Các quy định được dẫn chiếu bao gồm: khái niệm hợp đồng mua bán tài sản; nghĩa vụ giao tài sản và giấy tờ liên quan; nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu của người bán; nghĩa vụ bảo đảm chất lượng của tài sản mua bán; nghĩa vụ thanh toán; nghĩa vụ bảo quản tài sản; nghĩa vụ chịu chi phí về chuyển quyền sở hữu; trách nhiệm do giao tài sản không đúng chủng loại, số lượng; bán đấu giá tài sản và trách nhiệm do giao tài sản có khiếm khuyết.

Nhờ quy định dẫn chiếu này, hợp đồng trao đổi tài sản được điều chỉnh đầy đủ bởi hệ thống quy phạm về hợp đồng mua bán, bảo đảm quyền, nghĩa vụ của các bên được xác định rõ ràng khi có tranh chấp phát sinh.

5. Thanh toán giá trị chênh lệch

Điều 456 quy định trường hợp tài sản trao đổi chênh lệch về giá trị thì các bên phải thanh toán cho nhau phần chênh lệch đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Đây là quy định áp dụng khi giá trị tài sản hai bên trao đổi không tương đương.

Ví dụ, A trao đổi một chiếc xe máy trị giá 50 triệu đồng lấy một lô hàng điện tử trị giá 60 triệu đồng của B. Theo Điều 456, A phải thanh toán cho B phần chênh lệch 10 triệu đồng, trừ khi hai bên có thỏa thuận khác như bù trừ bằng tài sản khác hoặc miễn thanh toán.

Các bên có thể thỏa thuận khác về việc thanh toán chênh lệch, ví dụ thỏa thuận bù trừ bằng các lô tài sản khác, ghi nhận phần chênh lệch thành khoản vay hoặc bỏ qua phần chênh lệch nếu mối quan hệ giữa các bên cho phép. Thỏa thuận này cần được thể hiện rõ trong hợp đồng để tránh tranh chấp sau này.

6. Lưu ý khi trao đổi bất động sản

Thứ nhất, hợp đồng trao đổi bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực theo quy định. Việc không tuân thủ hình thức có thể dẫn đến hợp đồng vô hiệu, gây thiệt hại cho các bên. Các bên cần chuẩn bị đầy đủ giấy tờ về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở trước khi công chứng.

Thứ hai, cần kiểm tra tình trạng pháp lý của bất động sản trao đổi: quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, tình trạng tranh chấp, thế chấp, quy hoạch. Việc bỏ qua kiểm tra có thể dẫn đến việc trao đổi tài sản đang bị hạn chế quyền hoặc có tranh chấp với người thứ ba.

Thứ ba, khi giá trị bất động sản chênh lệch, cần thỏa thuận rõ về việc thanh toán phần chênh lệch và thể hiện trong hợp đồng. Nếu không thỏa thuận, các bên phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Điều 456, có thể phát sinh tranh chấp về giá trị, thời hạn và phương thức thanh toán.

Thứ tư, cần thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở cho bên nhận sau khi trao đổi. Việc đăng ký là điều kiện để quyền sở hữu được Nhà nước công nhận và bảo vệ trước người thứ ba.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13) - Điều 455 về hợp đồng trao đổi tài sản
  • Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13) - Điều 456 về thanh toán giá trị chênh lệch
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp