Kháng cáo là quyền tố tụng quan trọng của đương sự, cho phép yêu cầu Tòa án cấp trên xem xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Việc thực hiện đúng quyền kháng cáo và tuân thủ thời hạn kháng cáo quyết định việc kháng cáo có được thụ lý hay không. Bài viết phân tích Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về người có quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo.
Điều 271. Người có quyền kháng cáo
Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
Điều 273. Thời hạn kháng cáo
1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.
2. Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật này.
3. Trường hợp đơn kháng cáo được gửi qua dịch vụ bưu chính thì ngày kháng cáo được xác định căn cứ vào ngày tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Trường hợp người kháng cáo đang bị tạm giam thì ngày kháng cáo là ngày đơn kháng cáo được giám thị trại giam xác nhận.
Nguồn: Toàn văn Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 — Luật Minh Bạch
Điều 271 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 xác định người có quyền kháng cáo gồm: đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện. Những chủ thể này có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hoặc quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm.
Đương sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Mỗi đương sự có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình. Người đại diện hợp pháp của đương sự cũng có quyền kháng cáo thay cho đương sự trong phạm vi đại diện.
Quyền kháng cáo gắn với lợi ích của người kháng cáo. Người không phải đương sự, không có quyền lợi liên quan không có quyền kháng cáo. Việc xác định đúng tư cách người kháng cáo là điều kiện để Tòa án thụ lý đơn kháng cáo. Nếu người kháng cáo không thuộc diện có quyền kháng cáo, Tòa án sẽ trả lại đơn hoặc đình chỉ xét xử phúc thẩm.
Điều 272 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định đơn kháng cáo phải có các nội dung chính: ngày, tháng, năm làm đơn; tên, địa chỉ của người kháng cáo; kháng cáo toàn bộ hoặc phần của bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật; lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo; chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.
Đơn kháng cáo phải được gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định bị kháng cáo. Trường hợp đơn kháng cáo được gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm thì Tòa án đó phải chuyển cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiến hành các thủ tục cần thiết. Kèm theo đơn kháng cáo, người kháng cáo phải gửi tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh kháng cáo là có căn cứ và hợp pháp.
Nếu người kháng cáo không tự mình làm đơn thì có thể ủy quyền cho người khác đại diện kháng cáo. Việc ủy quyền phải được làm thành văn bản có công chứng, chứng thực hợp pháp, trừ trường hợp văn bản ủy quyền được lập tại Tòa án có sự chứng kiến của Thẩm phán hoặc người được Chánh án phân công.
Khoản 1 Điều 273 quy định thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đây là mốc thời hạn phổ biến nhất mà đương sự cần ghi nhớ. Đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Đối với trường hợp đương sự đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án. Quy định này ngăn chặn việc lạm dụng vắng mặt để kéo dài thời hạn kháng cáo.
Thời hạn 15 ngày được tính liên tục, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ. Nếu ngày cuối cùng của thời hạn trùng với ngày nghỉ, ngày lễ thì ngày cuối cùng được tính là ngày làm việc đầu tiên sau đó. Đương sự cần gửi đơn kháng cáo trong thời hạn này để bảo đảm quyền kháng cáo.
Khoản 2 Điều 273 quy định thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày kể từ ngày đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định.
Thời hạn 07 ngày ngắn hơn so với bản án, phản ánh tính chất khẩn trương của việc xem xét các quyết định tố tụng. Việc quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án ảnh hưởng trực tiếp đến quyền khởi kiện và quyền bảo vệ quyền lợi của đương sự, nên cần được giải quyết nhanh chóng.
Người kháng cáo quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ cũng cần tuân thủ các quy định về nội dung đơn kháng cáo và thủ tục gửi đơn như đối với kháng cáo bản án. Đây là điểm quan trọng để bảo đảm đơn kháng cáo được thụ lý.
Khoản 3 Điều 273 quy định cách xác định ngày kháng cáo trong một số trường hợp đặc thù. Trường hợp đơn kháng cáo được gửi qua dịch vụ bưu chính, ngày kháng cáo được xác định căn cứ vào ngày tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Quy định này bảo vệ quyền kháng cáo của đương sự khi việc chuyển phát mất thời gian.
Trường hợp người kháng cáo đang bị tạm giam, ngày kháng cáo là ngày đơn kháng cáo được giám thị trại giam xác nhận. Quy định này bảo đảm người bị tạm giam vẫn thực hiện được quyền kháng cáo mà không bị ảnh hưởng bởi việc chuyển phát đơn từ trại giam đến Tòa án.
Đối với đơn kháng cáo nộp trực tiếp tại Tòa án, ngày kháng cáo là ngày Tòa án nhận đơn, thể hiện qua biên nhận hoặc dấu đến. Đương sự nên yêu cầu xác nhận đã nhận đơn để có chứng cứ về ngày nộp đơn, phòng trường hợp tranh chấp về thời hạn kháng cáo.
Trường hợp đơn kháng cáo quá thời hạn luật định, Tòa án sẽ trả lại đơn kháng cáo, trừ trường hợp có lý do chính đáng theo quy định. Lý do chính đáng có thể là sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho người kháng cáo không thể thực hiện được quyền kháng cáo trong thời hạn, ví dụ thiên tai, dịch bệnh, tai nạn, ốm đau nặng.
Khi có lý do chính đáng, người kháng cáo cần làm văn bản giải trình kèm tài liệu chứng minh để Tòa án xem xét việc khôi phục thời hạn kháng cáo. Tòa án cấp phúc thẩm xem xét và quyết định việc chấp nhận kháng cáo quá hạn hay không. Quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm về kháng cáo quá hạn có thể bị kháng nghị theo quy định.
Việc xác định kháng cáo quá hạn thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm. Trước khi xét xử, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét tính hợp lệ của đơn kháng cáo, bao gồm cả việc tuân thủ thời hạn kháng cáo. Nếu đơn kháng cáo không hợp lệ, Tòa án có thể đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo đó.
Thứ nhất, cần xác định rõ phần bản án, quyết định bị kháng cáo. Người kháng cáo có quyền kháng cáo toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định. Việc kháng cáo cần hướng tới phần có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của mình và nêu rõ yêu cầu cụ thể.
Thứ hai, cần trình bày lý do kháng cáo có căn cứ. Lý do kháng cáo thường là việc Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá chứng cứ không đầy đủ, áp dụng pháp luật không đúng hoặc vi phạm thủ tục tố tụng. Lý do càng cụ thể, kèm chứng cứ bổ sung thì càng dễ được chấp nhận.
Thứ ba, cần tuân thủ nghiêm ngặt thời hạn kháng cáo. Đây là điều kiện bắt buộc để kháng cáo được thụ lý. Nên nộp đơn sớm, không chờ đến ngày cuối cùng, để tránh rủi ro do sự cố khách quan.
Thứ tư, cần bảo quản chứng cứ về việc nộp đơn đúng hạn: biên nhận của Tòa án, dấu bưu điện trên phong bì, xác nhận của trại giam. Đây là căn cứ để chứng minh kháng cáo trong thời hạn nếu phát sinh tranh chấp.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.