Điều 82. Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người, không còn khả năng tiếp tục sử dụng 1. Các trường hợp thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật bao gồm: a) Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất bị giải thể, phá sản hoặc bị chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật; b) Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người nhận thừa kế sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản theo quy định của pháp luật về dân sự; c) Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn sử dụng đất; d) Thu hồi đất trong trường hợp chấm dứt dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư; đ) Thu hồi đất trong trường hợp đã bị thu hồi rừng theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp. 2. Người sử dụng đất giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất và có đơn tự nguyện trả lại đất. 3. Các trường hợp thu hồi đất do có nguy cơ đe dọa tính mạng con người hoặc không còn khả năng tiếp tục sử dụng bao gồm: a) Đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; đất khác trong khu vực bị ô nhiễm môi trường không còn khả năng tiếp tục sử dụng theo mục đích đã xác định; b) Đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người; đất khác bị sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác mà không còn khả năng tiếp tục sử dụng. 4. Thu hồi đất đối với các trường hợp phải thu hồi đất theo quy định tại kho
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 82 Luật Đất đai 2024 (31/2024/QH15) quy định các trường hợp chấm dứt sử dụng đất, làm cơ sở pháp lý cho việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Theo Điều 82, việc sử dụng đất chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
Thực tiễn, khi hộ gia đình tự nguyện trả lại đất để chuyển đổi mục đích sử dụng hoặc di chuyển nơi ở, cơ quan nhà nước có thẩm quyền lập thủ tục thu hồi đất, thu hồi Giấy chứng nhận và thực hiện bồi thường (nếu có) theo quy định. Việc xác định đúng trường hợp chấm dứt sử dụng đất có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm và quản lý quỹ đất hiệu quả.
Trường hợp tự nguyện trả lại đất là một trong các căn cứ dẫn đến việc thu hồi đất do chấm dứt sử dụng đất, được ghi nhận tại Điều 82 Luật Đất đai 2024 (31/2024/QH15). Cụ thể, khoản 1 Điều 82 quy định rõ: "Thu hồi đất do chấm dứt sử dụng đất, tự nguyện trả lại đất".
Về bản chất, đây là quyền của người sử dụng đất khi không còn nhu cầu sử dụng hoặc không đủ khả năng tiếp tục khai thác thửa đất đang quản lý. Việc trả lại đất phải thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, không phải là sự từ bỏ quyền lợi một cách tùy tiện mà cần có sự xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ví dụ thực tiễn: Cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp để sản xuất nhưng do chuyển đổi nghề nghiệp, không còn khả năng canh tác, tự nguyện nộp đơn đề nghị trả lại phần diện tích đất không sử dụng. Hoặc hộ gia đình nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng sau đó phát sinh nhu cầu định cư ở nước ngoài, quyết định hoàn trả lại đất cho Nhà nước.
Lưu ý quan trọng: Theo nguyên tắc tại Điều 82 Luật Đất đai 2024, khi tự nguyện trả lại đất, người sử dụng đất vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính liên quan đến thời điểm trả lại đất (nếu có). Đồng thời, việc thu hồi đất trong trường hợp này được thực hiện mà không bồi thường về đất, trừ trường hợp đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất mà chưa sử dụng hết thời hạn và người sử dụng đất tự nguyện trả lại phần đất còn lại trước thời hạn theo quy định tại khoản 4 Điều 82.
Do đó, trước khi thực hiện tự nguyện trả lại đất, người sử dụng đất cần cân nhắc kỹ lưỡng về quyền lợi tài chính và thực hiện đúng thủ tục tại Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi có đất để đảm bảo quyền lợi hợp pháp.
Căn cứ: Điều 82 Luật Đất đai 2024 (31/2024/QH15).
Điều 82 quy định thủ tục thu hồi đất áp dụng cho các trường hợp chấm dứt sử dụng đất, tự nguyện trả lại đất. Trình tự:
Phân tích: Với trường hợp tự nguyện trả lại đất, thủ tục đơn giản hơn do không phát sinh tranh chấp, không cần cưỡng chế. Ngược lại, chấm dứt sử dụng đất do vi phạm pháp luật đòi hỏi chặt chẽ hơn về trình tự, bảo đảm quyền khiếu nại của người sử dụng đất.
Ví dụ: Hộ ông A tự nguyện trả lại 500 m² đất nông nghiệp cho Nhà nước để chuyển sang mục đích công cộng. UBND cấp xã lập biên bản, Phòng Tài nguyên và Môi trường thẩm định, UBND cấp huyện ra quyết định thu hồi, chỉnh lý bản đồ địa chính. Trường hợp này không bồi thường về đất nhưng có thể xem xét hỗ trợ chi phí đầu tư còn lại theo quy định.
Lưu ý thực tiễn: Thời hạn thông báo, niêm yết phải tuân thủ; nếu thiếu bước niêm yết, quyết định thu hồi có thể bị khiếu nại, hủy bỏ. Người sử dụng đất có quyền yêu cầu cung cấp hồ sơ, nhận quyết định và thực hiện quyền khiếu nại theo Luật Khiếu nại.
Căn cứ pháp lý: Điều 82 Luật Đất đai 2024 (31/2024/QH15).
Khi Nhà nước thu hồi đất do chấm dứt sử dụng đất theo pháp luật hoặc do người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất, quyền lợi của người sử dụng đất được xác định theo từng trường hợp cụ thể mà Điều 82 quy định.
Đối với trường hợp tự nguyện trả lại đất: người sử dụng đất được xem xét bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại nếu việc trả lại đất gắn với dự án đầu tư hoặc theo quy định của Chính phủ. Trường hợp tự nguyện trả lại đất mà không thuộc diện được bồi thường, người sử dụng đất vẫn được ghi nhận đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính về đất đai, làm cơ sở để xử lý các quyền, nghĩa vụ liên quan.
Đối với trường hợp chấm dứt sử dụng đất theo pháp luật: quyền lợi phụ thuộc vào nguyên nhân chấm dứt. Nếu do hết thời hạn sử dụng đất mà không được gia hạn, người sử dụng đất được bồi thường tài sản gắn liền với đất (nếu có) theo quy định; nếu do bị thu hồi vì vi phạm pháp luật về đất đai, người sử dụng đất không được bồi thường về đất nhưng được xem xét giá trị tài sản gắn liền với đất trong một số trường hợp luật định.
Ví dụ thực tiễn: Ông A được giao đất có thời hạn 50 năm để sản xuất nông nghiệp. Hết thời hạn, ông A không thuộc diện được gia hạn và tự nguyện trả lại đất. Theo Điều 82, ông A được xem xét bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (như chi phí cải tạo, san lấp) nếu đáp ứng điều kiện luật định, đồng thời được ghi nhận hoàn thành nghĩa vụ tài chính.
Như vậy, Điều 82 bảo đảm quyền lợi chính đáng của người sử dụng đất trên cơ sở phân biệt rõ giữa trả lại đất tự nguyện và chấm dứt sử dụng đất theo pháp luật, tránh thiệt hại không đáng có cho người dân.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.