Điều 357. Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền 1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. 2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Nội dung đang được biên soạn.
Căn cứ pháp lý: Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015 (91/2015/QH13) về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền; Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 về lãi suất; Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015 về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ.
Theo khoản 1 Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015, khi bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. Khoản 2 Điều 357 xác định lãi suất phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468, cụ thể bằng 50% mức lãi suất giới hạn (tức 10%/năm tính trên số tiền chậm trả).
Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015 là cơ sở chung xác lập trách nhiệm dân sự khi một bên vi phạm nghĩa vụ, theo đó bên vi phạm phải chịu trách nhiệm đối với bên bị vi phạm, trừ trường hợp có căn cứ miễn trách nhiệm theo Điều 351 và Điều 156. Điều 468 quy định trần lãi suất thỏa thuận 20%/năm, làm căn cứ giới hạn lãi chậm trả.
Ví dụ thực tiễn: A vay B 500.000.000 đồng, hạn trả ngày 01/01/2024 nhưng đến 01/7/2024 mới thanh toán. Không có thỏa thuận lãi chậm trả. Áp dụng khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468, lãi chậm trả = 500.000.000 × 10%/năm × 6 tháng = 25.000.000 đồng. Nếu các bên thỏa thuận lãi chậm trả 25%/năm, phần vượt 20%/năm vô hiệu theo khoản 1 Điều 468.
Như vậy, Điều 357 là căn cứ trực tiếp buộc bên chậm thanh toán gánh chịu lãi chậm trả, với mức lãi suất được giới hạn bởi Điều 468 và đặt trong khuôn khổ trách nhiệm dân sự chung tại Điều 351.
Lãi suất chậm trả được xác định theo Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015. Khoản 2 Điều này quy định: khi bên có nghĩa vụ chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền, thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Mức lãi suất chậm trả được dẫn chiếu sang Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 về lãi suất. Theo đó, trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất chậm trả thì áp dụng theo thỏa thuận, nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền chậm trả. Trường hợp không có thỏa thuận, lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn nêu trên, tức 10%/năm.
Cơ sở của chế tài này là Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015 về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ. Bên vi phạm nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm đối với bên bị vi phạm; nếu chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi theo Điều 357. Như vậy, lãi chậm trả vừa mang tính bù đắp thiệt hại, vừa mang tính chế tài đối với hành vi chậm thanh toán.
Ví dụ thực tiễn: A vay B 500 triệu đồng, hạn trả ngày 01/3/2024 nhưng đến ngày 01/9/2024 mới trả. Hai bên không thỏa thuận lãi chậm trả. Số tiền chậm trả là 500 triệu, thời gian chậm 6 tháng. Lãi suất áp dụng là 10%/năm. Số lãi chậm trả = 500 triệu × 10% × (6/12) = 25 triệu đồng. Nếu các bên thỏa thuận lãi chậm trả 15%/năm thì áp dụng mức 15%/năm, vì chưa vượt giới hạn 20%/năm.
Lưu ý: mức trần 20%/năm là giới hạn bắt buộc; thỏa thuận vượt mức này không có hiệu lực áp dụng đối với phần vượt. Khi giải quyết tranh chấp, Tòa án căn cứ Điều 357 và Điều 468 để xác định số lãi chậm trả cụ thể.
Nội dung đang được biên soạn.
Thỏa thuận lãi suất trong hợp đồng
Nguyên tắc tự do thỏa thuận (khoản 2 Điều 3 BLDS 2015) cho phép các bên tự ấn định lãi suất chậm trả. Khi đã có thỏa thuận, lãi suất áp dụng chính là mức các bên cam kết, không mặc nhiên lấy mức 10%/năm theo khoản 2 Điều 357.
Giới hạn: Điều 468 BLDS 2015. Lãi suất do các bên thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay (khoản 1). Vượt mức này, phần vượt không có hiệu lực. Trường hợp thỏa thuận lãi suất cao hơn nhưng không xác định rõ lãi suất chậm trả, khi đến hạn bên vay không trả thì lãi suất chậm trả bằng lãi suất thỏa thuận nhưng không quá 20%/năm (khoản 4 Điều 468).
Điều 351 BLDS 2015 xác lập trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ: bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp miễn trách theo Điều 156 hoặc có thỏa thuận khác. Lãi chậm trả là một dạng thiệt hại được tính sẵn theo thỏa thuận, giảm gánh nặng chứng minh thiệt hại thực tế.
Ví dụ: Hợp đồng vay 1 tỷ đồng, thời hạn 12 tháng, lãi suất 12%/năm, thỏa thuận "lãi chậm trả bằng 150% lãi suất trong hạn" tức 18%/năm. Mức 18% ≤ 20% nên hợp pháp. Nếu thỏa thuận 24%/năm, phần vượt 20% không được Tòa án chấp nhận; chỉ 20%/năm được tính.
Lưu ý thực tiễn: điều khoản cần ghi rõ mức lãi chậm trả, cách tính (theo ngày/tháng), thời điểm bắt đầu tính. Không ghi rõ, Tòa án áp dụng mức 10%/năm theo khoản 2 Điều 357 — thường bất lợi cho bên có quyền.
Ngoài khoản lãi chậm trả theo Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015, bên bị vi phạm còn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại khác phát sinh từ hành vi chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Cơ sở pháp lý là Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015 về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ.
Theo Điều 351, bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền, bên vi phạm phải:
Như vậy, lãi chậm trả theo Điều 357 và lãi suất theo Điều 468 chỉ là một phần trách nhiệm. Bên bị thiệt hại vẫn được yêu cầu bồi thường các tổn thất thực tế khác mà việc chậm thanh toán gây ra, ví dụ: chi phí huy động vốn thay thế, thiệt hại do mất cơ hội kinh doanh, chi phí khắc phục hậu quả.
Ví dụ thực tiễn: A chậm thanh toán 2 tỷ đồng cho B đúng hạn. Ngoài lãi chậm trả, B phải vay ngân hàng với lãi suất cao hơn để bù đắp dòng tiền. Khoản chênh lệch lãi vay này là thiệt hại khác, B có quyền yêu cầu A bồi thường nếu chứng minh được mối quan hệ nhân quả và mức thiệt hại thực tế.
Điều kiện yêu cầu bồi thường: có hành vi vi phạm, có thiệt hại thực tế, có quan hệ nhân quả giữa vi phạm và thiệt hại, và bên yêu cầu phải chứng minh. Cần lưu ý nguyên tắc tại Điều 351: bên vi phạm chỉ bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật quy định khác.
Do đó, khi đòi lãi chậm trả, bên có quyền nên đồng thời xem xét yêu cầu bồi thường thiệt hại khác nếu có căn cứ, nhằm bảo đảm quyền lợi đầy đủ theo quy định pháp luật.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.