Điều 225. Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan — 1. Người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà cố ý thực hiện một trong các hành vi sau đây, xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm: a) Sao chép tác phẩm, bản ghi âm, bản ghi hình; b) Phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Xâm phạm sở hữu trí tuệ bị xử lý hình sự khi hành vi xâm phạm đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự. Căn cứ Điều 212 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH, cá nhân, pháp nhân thương mại có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự. Như vậy, Luật Sở hữu trí tuệ xác định nguyên tắc chung, còn điều kiện cụ thể được quy định tại Bộ luật Hình sự.
Theo Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà cố ý thực hiện một trong các hành vi như sao chép tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình; phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, ghi hình, bị xử lý hình sự khi đạt định lượng: xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại; thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; gây thiệt hại cho chủ thể quyền từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. Khung hình phạt cao nhất lên đến 1.000.000.000 đồng tiền phạt hoặc 03 năm tù đối với cá nhân.
Theo Điều 226 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại, thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, gây thiệt hại cho chủ sở hữu từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ví dụ thực tiễn: doanh nghiệp sản xuất, buôn bán hàng hóa giả mạo nhãn hiệu đã đăng ký bảo hộ với số lượng lớn, thu lợi bất chính trên 100 triệu đồng sẽ bị khởi tố theo Điều 226.
Điểm mấu chốt để xử lý hình sự là yếu tố cố ý và định lượng thiệt hại, quy mô thương mại. Hành vi xâm phạm dưới mức định lượng nêu trên chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc áp dụng biện pháp dân sự, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan được quy định tại Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Người nào không được phép của chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan mà cố ý thực hiện một trong các hành vi: sao chép tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình; phân phối đến công chúng bản sao tác phẩm, bản sao bản ghi âm, bản sao bản ghi hình, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đáp ứng đủ định lượng hoặc hậu quả luật định.
Cụ thể, theo khoản 1 Điều 225, người phạm tội bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm khi: xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại; thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; gây thiệt hại cho chủ thể quyền từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. Khoản 2 quy định khung hình phạt tăng nặng với phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm khi phạm tội có tổ chức, phạm tội từ 02 lần trở lên, thu lợi bất chính từ 300.000.000 đồng trở lên, gây thiệt hại từ 500.000.000 đồng trở lên hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền bổ sung, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Ví dụ thực tiễn: một cơ sở in ấn tự ý sao chép, in lậu 5.000 cuốn giáo trình đang được bảo hộ quyền tác giả để bán ra thị trường, thu lợi bất chính 250.000.000 đồng. Hành vi này thỏa mãn dấu hiệu “quy mô thương mại” và “thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng trở lên”, đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm a, b khoản 1 Điều 225 Bộ luật Hình sự.
Cần lưu ý, Điều 212 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử lý hình sự phải có yếu tố “cố ý” và “quy mô thương mại”. Như vậy, không phải mọi hành vi xâm phạm quyền tác giả đều dẫn đến trách nhiệm hình sự; các trường hợp dưới định lượng nêu trên chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bồi thường thiệt hại dân sự.
Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp được quy định tại Điều 226 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Theo đó, người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam mà thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, hoặc gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý từ 200.000.000 đồng trở lên, hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội từ 02 lần trở lên, hoặc thu lợi bất chính từ 300.000.000 đồng trở lên, gây thiệt hại từ 500.000.000 đồng trở lên, hàng hóa vi phạm trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên, thì khung hình phạt tăng lên, mức phạt tù từ 02 năm đến 05 năm. Pháp nhân thương mại phạm tội này cũng bị xử lý hình sự với mức phạt tiền cao hơn, có thể bị đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc vĩnh viễn.
Điều 212 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất (Văn bản hợp nhất 67/VBHN-VPQH) xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử lý hình sự bao gồm hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (theo Điều 225 Bộ luật Hình sự) và hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (theo Điều 226 Bộ luật Hình sự). Điều luật này dẫn chiếu trực tiếp đến Bộ luật Hình sự, khẳng định nguyên tắc chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự khi hành vi xâm phạm đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự.
Ví dụ thực tiễn: một cơ sở sản xuất nước mắm đóng chai giả nhãn hiệu nổi tiếng đã được bảo hộ, bán ra thị trường thu lợi bất chính 150.000.000 đồng. Hành vi này đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 226. Ngược lại, nếu thu lợi bất chính dưới 100.000.000 đồng và không thuộc trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về tội này mà còn vi phạm, thì chỉ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
Điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều 225 và Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đồng thời được dẫn chiếu bởi Điều 212 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất. Theo đó, không phải mọi hành vi xâm phạm đều bị xử lý hình sự, mà chỉ những hành vi đạt đến ngưỡng định lượng hoặc định tính nhất định mới đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Về quy mô thương mại, pháp luật hình sự không sử dụng khái niệm chung chung mà cụ thể hóa thành các dấu hiệu định lượng. Đối với tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 225), người phạm tội bị truy cứu khi hành vi sao chép tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình hoặc xâm phạm quyền phân phối, truyền đạt tác phẩm đến công chúng nhằm mục đích thương mại. Tương tự, đối với tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 226), yếu tố "quy mô thương mại" được thể hiện qua việc sản xuất, buôn bán, tàng trữ để bán hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý.
Về giá trị hàng hóa, đây là căn cứ định lượng quan trọng bậc nhất để phân biệt giữa xử phạt hành chính và truy cứu hình sự. Theo khoản 1 Điều 225 và khoản 1 Điều 226, người phạm tội bị truy cứu khi hàng hóa xâm phạm có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên, hoặc thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng trở lên, hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền từ 100 triệu đồng trở lên. Trường hợp hàng hóa xâm phạm có giá trị dưới 100 triệu đồng nhưng người vi phạm đã bị xử phạt hành chính về cùng hành vi hoặc đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ví dụ thực tiễn: một cơ sở sản xuất, buôn bán 2.000 chiếc áo giả mạo nhãn hiệu đã được bảo hộ, tổng giá trị hàng hóa xác định là 250 triệu đồng, thì hành vi đủ yếu tố định lượng để truy cứu theo Điều 226. Ngược lại, nếu giá trị hàng hóa chỉ 80 triệu đồng và người vi phạm chưa từng bị xử phạt hành chính hay kết án về hành vi tương tự, thì chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 211 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất.
Cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan theo Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Trường hợp phạm tội có tổ chức, phạm tội từ 02 lần trở lên, hoặc gây thiệt hại từ 500.000.000 đồng trở lên, khung hình phạt tăng lên đến 03 năm tù; pháp nhân thương mại còn có thể bị đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 02 năm hoặc bị cấm kinh doanh vĩnh viễn trong lĩnh vực vi phạm.
Đối với tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo Điều 226 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), mức phạt tiền áp dụng từ 50.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Khung tăng nặng áp dụng khi hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 300.000.000 đồng trở lên, mức phạt tù có thể lên đến 05 năm. Pháp nhân thương mại phạm tội còn bị phạt tiền đến 5.000.000.000 đồng, bị đình chỉ hoạt động hoặc cấm kinh doanh có thời hạn.
Điều 212 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH 2026 xác định hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự. Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn phải chịu trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại, bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm và buộc tiêu hủy hàng hóa giả mạo.
Ví dụ thực tiễn: doanh nghiệp sản xuất, buôn bán số lượng lớn hàng hóa giả mạo nhãn hiệu đã được bảo hộ tại Việt Nam, thu lợi bất chính trên 300.000.000 đồng, bị truy tố theo Điều 226 Bộ luật Hình sự; ngoài án tù, doanh nghiệp còn bị phạt tiền, buộc tiêu hủy toàn bộ lô hàng vi phạm và bồi thường thiệt hại cho chủ thể quyền. Hậu quả pháp lý không chỉ dừng ở chế tài hình sự mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín thương mại, năng lực hoạt động và khả năng tiếp cận thị trường của tổ chức, cá nhân vi phạm.
Xâm phạm sở hữu trí tuệ có thể bị xử lý bằng ba chế tài khác nhau: dân sự, hành chính và hình sự. Việc phân biệt dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và hậu quả gây ra cho xã hội.
Xử lý dân sự đặt trọng tâm vào việc bồi hoàn thiệt hại cho chủ thể quyền. Chủ thể quyền khởi kiện ra Tòa án yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại vật chất và tinh thần. Trách nhiệm dân sự phát sinh khi có hành vi xâm phạm, có thiệt hại thực tế và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại, không phụ thuộc vào yếu tố lỗi cố ý hay vô ý.
Xử lý hành chính do cơ quan quản lý nhà nước (Thanh tra, Quản lý thị trường, Công an, Hải quan) áp dụng đối với hành vi xâm phạm gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Các hình thức xử phạt gồm cảnh cáo, phạt tiền, tịch thu hàng hóa, đình chỉ hoạt động. Căn cứ xử phạt là hành vi vi phạm hành chính được quy định tại Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
Xử lý hình sự là biện pháp nghiêm khắc nhất, chỉ áp dụng khi hành vi xâm phạm đạt mức độ nguy hiểm đáng kể cho xã hội. Theo Điều 212 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH, cá nhân, pháp nhân thương mại thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 225 (tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan) và Điều 226 (tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp) Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017).
Ví dụ thực tiễn: một cơ sở in lậu 500 cuốn sách giáo khoa để bán thu lợi bất chính 50 triệu đồng có thể bị xử phạt hành chính; nhưng nếu in lậu 3.000 cuốn, thu lợi bất chính 300 triệu đồng hoặc tái phạm nguy hiểm, hành vi đã đủ định lượng cấu thành tội phạm theo Điều 225 Bộ luật Hình sự và bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Như vậy, ranh giới giữa xử lý hành chính và hình sự nằm ở định lượng thiệt hại, giá trị hàng hóa vi phạm hoặc thu lợi bất chính, còn xử lý dân sự luôn có thể được áp dụng song song để bảo vệ quyền lợi của chủ thể quyền.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.