Tiền lương làm thêm giờ, làm việc ban đêm: cách tính | Công ty Luật Minh Bạch

Tiền lương làm thêm giờ, làm việc ban đêm: cách tính

Lao động · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Trường hợp phải trả tiền lương làm thêm giờ
  2. Cách tính tiền lương làm thêm giờ
  3. Tiền lương làm việc ban đêm
  4. Làm thêm giờ vào ban đêm
  5. Giới hạn số giờ làm thêm
  6. Lưu ý về thỏa thuận làm thêm

Điều 98. Tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm 1. Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm như sau: a) Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%; b) Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%; c) Vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày. 2. Người lao động làm việc vào ban đêm thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường. 3. Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần hoặc của ngày nghỉ lễ, tết. 4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Trường hợp phải trả tiền lương làm thêm giờ

Trường hợp phải trả tiền lương làm thêm giờ phát sinh khi người lao động làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường theo quy định tại khoản 1 Điều 105 Bộ luật Lao động 2019 (không quá 08 giờ/ngày, 48 giờ/tuần) và thuộc một trong các trường hợp tại khoản 1 Điều 107 Bộ luật Lao động 2019: (i) có sự đồng ý của người lao động về thời gian, địa điểm, công việc làm thêm; (ii) bảo đảm số giờ làm thêm không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, không quá 40 giờ/tháng, không quá 200 giờ/năm, trừ trường hợp Chính phủ quy định tối đa 300 giờ/năm đối với một số ngành nghề, công việc.

Khi làm thêm giờ hợp pháp, người sử dụng lao động bắt buộc phải trả tiền lương làm thêm giờ theo khoản 1 Điều 98 Bộ luật Lao động 2019. Mức trả tối thiểu: 150% đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả của ngày làm việc bình thường đối với ngày thường; 200% đối với ngày nghỉ hằng tuần; 300% đối với ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương (chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày).

Ví dụ: Người lao động hưởng lương theo thời gian, tiền lương giờ làm việc bình thường là 50.000 đồng/giờ. Ngày thường làm thêm 02 giờ thì tiền lương làm thêm tối thiểu là 02 × 50.000 × 150% = 150.000 đồng. Nếu làm thêm vào ngày nghỉ hằng tuần, mức tối thiểu là 02 × 50.000 × 200% = 200.000 đồng. Nếu làm thêm vào ngày lễ, tết, mức tối thiểu là 02 × 50.000 × 300% = 300.000 đồng, đồng thời vẫn được hưởng tiền lương của ngày lễ, tết đó theo quy định.

Lưu ý: Người sử dụng lao động không được trả thấp hơn các mức nêu trên; thỏa thuận trả thấp hơn sẽ không có giá trị pháp lý. Trường hợp làm thêm giờ không đáp ứng điều kiện tại Điều 107, người sử dụng lao động có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, nhưng nghĩa vụ trả lương làm thêm giờ theo Điều 98 vẫn phát sinh đối với thời gian người lao động đã làm việc thực tế.

2. Cách tính tiền lương làm thêm giờ

Căn cứ Điều 98 Bộ luật Lao động 2019, tiền lương làm thêm giờ được tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm, với các mức cụ thể như sau:

Thứ nhất, làm thêm vào ngày thường: người lao động được trả ít nhất bằng 150% đơn giá tiền lương của ngày làm việc bình thường.

Thứ hai, làm thêm vào ngày nghỉ hằng tuần: được trả ít nhất bằng 200%.

Thứ ba, làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương: được trả ít nhất bằng 300%, chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.

Điều 105 Bộ luật Lao động 2019 quy định thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ/ngày và không quá 48 giờ/tuần. Theo Điều 107, thời gian làm thêm giờ là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường này. Như vậy, mốc để xác định “làm thêm giờ” phải căn cứ vào thời giờ làm việc bình thường đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể, không vượt quá giới hạn luật định.

Ví dụ thực tiễn: Anh A có mức lương theo tháng là 6.000.000 đồng, làm việc 26 ngày/tháng, mỗi ngày 08 giờ. Tiền lương giờ bình thường của anh A là: 6.000.000 ÷ (26 × 8) = 28.846 đồng/giờ. Nếu anh A làm thêm 02 giờ vào ngày thường, tiền lương làm thêm giờ tối thiểu anh được nhận là: 28.846 × 150% × 2 = 86.538 đồng. Nếu làm thêm 02 giờ vào ngày nghỉ hằng tuần, mức tối thiểu là: 28.846 × 200% × 2 = 115.384 đồng. Nếu làm thêm 02 giờ vào ngày lễ, tết, mức tối thiểu là: 28.846 × 300% × 2 = 173.076 đồng.

Lưu ý, các mức 150%, 200%, 300% là mức tối thiểu bắt buộc. Người sử dụng lao động có thể trả cao hơn theo thỏa thuận, nhưng không được thấp hơn quy định của Điều 98 Bộ luật Lao động 2019.

3. Tiền lương làm việc ban đêm

1. Khái niệm và căn cứ pháp lý

Khoản 2 Điều 98 Bộ luật Lao động 2019 quy định: người lao động làm việc vào ban đêm được trả thêm ít nhất 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường. Giờ làm việc ban đêm được tính từ 22 giờ đến 6 giờ sáng ngày hôm sau theo Điều 105 Bộ luật Lao động 2019.

2. Cách tính tiền lương làm việc ban đêm

Tiền lương làm việc ban đêm = Tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường × Số giờ làm việc ban đêm × 130%.

Mức 130% bao gồm 100% tiền lương của ngày làm việc bình thường cộng thêm 30% phụ cấp làm đêm. Trường hợp người lao động làm thêm giờ vào ban đêm, ngoài mức 130% nêu trên còn được hưởng thêm tiền lương làm thêm giờ theo quy định tại khoản 1 Điều 98 và khoản 3 Điều 98 Bộ luật Lao động 2019.

3. Ví dụ thực tiễn

Người lao động A có tiền lương giờ ngày làm việc bình thường là 30.000 đồng/giờ. A làm việc từ 22 giờ đến 24 giờ (2 giờ làm đêm, không phải làm thêm giờ). Tiền lương làm việc ban đêm của A = 30.000 × 2 × 130% = 78.000 đồng. Trong đó 60.000 đồng là tiền lương giờ bình thường, 18.000 đồng là phụ cấp làm đêm (30%).

Trường hợp A làm thêm giờ vào ban đêm: ngoài 78.000 đồng nêu trên, A còn được hưởng tiền lương làm thêm giờ theo khoản 1 Điều 98 (ít nhất 150% đối với ngày thường, 200% đối với ngày nghỉ hằng tuần, 300% đối với ngày lễ, tết) và khoản 3 Điều 98 (thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường).

4. Lưu ý

Người sử dụng lao động không được yêu cầu người lao động làm thêm giờ quá 40 giờ/tháng và quá 200 giờ/năm theo Điều 107 Bộ luật Lao động 2019, trừ trường hợp đặc biệt được pháp luật cho phép. Việc trả lương làm việc ban đêm là nghĩa vụ bắt buộc, không phụ thuộc vào thỏa thuận của hai bên.

4. Làm thêm giờ vào ban đêm

Làm thêm giờ vào ban đêm là trường hợp người lao động làm thêm giờ trong khoảng thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng hôm sau, theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Lao động 2019. Đây là trường hợp đặc biệt vì người lao động phải chịu cùng lúc hai yếu tố bất lợi: làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường và làm việc trong khung giờ ban đêm ảnh hưởng đến sức khỏe.

Theo khoản 3 Điều 98 Bộ luật Lao động 2019, người lao động làm thêm giờ vào ban đêm được hưởng tiền lương tính theo công thức sau:

Tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm = Tiền lương giờ thực trả của công việc đang làm vào ngày làm việc bình thường × Mức ít nhất 150% (hoặc 200%, 300%) × Số giờ làm thêm + Tiền lương giờ thực trả của công việc đang làm vào ngày làm việc bình thường × Mức ít nhất 30% × Số giờ làm thêm + 20% × Tiền lương giờ của công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường (hoặc của ngày nghỉ hằng tuần, ngày nghỉ lễ, tết) × Số giờ làm thêm.

Trong đó, mức 150% áp dụng cho ngày thường, 200% cho ngày nghỉ hằng tuần, 300% cho ngày nghỉ lễ, tết theo khoản 1 Điều 98. Mức 30% là phụ cấp làm việc ban đêm theo khoản 2 Điều 98. Mức 20% là khoản cộng thêm khi làm thêm giờ vào ban đêm, tính trên tiền lương giờ của công việc làm vào ban ngày tương ứng.

Ví dụ thực tiễn: Người lao động A có tiền lương giờ làm việc ban ngày của ngày làm việc bình thường là 50.000 đồng. A làm thêm 02 giờ vào ban đêm của ngày thường. Tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm của A được tính như sau: 50.000 đồng × 150% × 02 giờ = 150.000 đồng; cộng 50.000 đồng × 30% × 02 giờ = 30.000 đồng; cộng 20% × 50.000 đồng × 02 giờ = 20.000 đồng. Tổng cộng A nhận được 200.000 đồng cho 02 giờ làm thêm ban đêm.

Người sử dụng lao động phải bảo đảm tổng số giờ làm thêm không vượt quá giới hạn quy định tại Điều 107 Bộ luật Lao động 2019, đồng thời phải trả đủ các khoản tiền lương nêu trên. Việc không trả đủ tiền lương làm thêm giờ vào ban đêm là hành vi vi phạm pháp luật lao động và có thể bị xử phạt hành chính.

5. Giới hạn số giờ làm thêm

Giới hạn số giờ làm thêm được quy định tại Điều 107 Bộ luật Lao động 2019 và có mối liên hệ chặt chẽ với Điều 105 về thời giờ làm việc bình thường. Theo khoản 1 Điều 105, thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ/ngày và 48 giờ/tuần. Trên cơ sở đó, Điều 107 đặt ra các trần giới hạn nhằm bảo vệ sức khỏe người lao động.

Theo khoản 2 Điều 107, người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đủ các điều kiện: có sự đồng ý của người lao động; bảo đảm số giờ làm thêm không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày; trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ/ngày; không quá 40 giờ/tháng; và bảo đảm số giờ làm thêm không quá 200 giờ/01 năm.

Như vậy, mức trần chung là 200 giờ/năm. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 107 cho phép nâng lên 300 giờ/năm đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù như: sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm dệt, may, da, giày, điện, điện tử; chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản; cung cấp điện, nước, viễn thông, lọc dầu; hoặc các trường hợp giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao mà thị trường lao động không cung ứng đầy đủ, kịp thời. Khi áp dụng mức 300 giờ, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Ví dụ thực tiễn: Doanh nghiệp dệt may có đơn hàng xuất khẩu gấp trong tháng 10. Người lao động làm việc 08 giờ/ngày theo chế độ tuần. Doanh nghiệp huy động làm thêm 02 giờ/ngày, tổng 10 giờ/ngày — dưới mức 12 giờ/ngày, đạt điều kiện. Tổng giờ làm thêm trong tháng là 40 giờ — đúng trần 40 giờ/tháng. Tổng giờ làm thêm cả năm của doanh nghiệp này là 280 giờ. Vì thuộc ngành dệt may, doanh nghiệp được áp dụng mức 300 giờ/năm nhưng phải gửi thông báo bằng văn bản đến Sở Lao động – Thương binh và Xã hội cấp tỉnh.

Vi phạm giới hạn số giờ làm thêm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 12/2022/NĐ-CP, với mức phạt tiền từ 20 triệu đến 75 triệu đồng tùy theo số lượng người lao động bị vi phạm.

6. Lưu ý về thỏa thuận làm thêm

Thỏa thuận làm thêm giờ là căn cứ pháp lý quan trọng xác lập quyền và nghĩa vụ giữa người lao động và người sử dụng lao động khi phát sinh thời giờ làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường. Theo khoản 1 Điều 107 Bộ luật Lao động 2019, thời giờ làm thêm là khoảng thời gian làm việc ngoài thời giờ làm việc bình thường theo quy định tại Điều 105 của Bộ luật này. Như vậy, việc xác định thời gian nào là "làm thêm" phải đối chiếu với thời giờ làm việc bình thường đã được thỏa thuận hoặc quy định nội bộ, không quá 08 giờ/ngày và 48 giờ/tuần theo khoản 1 Điều 105.

Về nguyên tắc, người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi có sự đồng ý của người lao động. Khoản 2 Điều 107 quy định người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu, trong đó bao gồm việc phải được sự đồng ý của người lao động. Sự đồng ý này cần được thể hiện rõ ràng, tốt nhất bằng văn bản hoặc hình thức có giá trị chứng minh, tránh tình trạng mặc nhiên coi việc người lao động ở lại làm việc là đã đồng ý làm thêm. Thỏa thuận cần xác định rõ nội dung công việc, thời điểm, số giờ làm thêm dự kiến và mức lương làm thêm tương ứng.

Về tiền lương, Điều 98 Bộ luật Lao động 2019 quy định mức tối thiểu người lao động được hưởng khi làm thêm giờ: ít nhất bằng 150% đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc đang làm vào ngày thường; 200% vào ngày nghỉ hằng tuần; 300% vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương. Thỏa thuận làm thêm không được thấp hơn các mức tối thiểu này; nếu thỏa thuận thấp hơn thì phần thỏa thuận đó vô hiệu và áp dụng mức luật định.

Ví dụ thực tiễn: Công ty A thỏa thuận với người lao động B làm thêm 02 giờ vào ngày thường với mức lương làm thêm bằng 120% lương giờ bình thường. Thỏa thuận này trái khoản 1 Điều 98 vì thấp hơn mức tối thiểu 150%, do đó không có giá trị pháp lý; Công ty A vẫn phải trả ít nhất 150% cho số giờ làm thêm đó. Ngược lại, nếu hai bên thỏa thuận mức 170% vào ngày thường thì mức này hợp pháp và được ghi nhận.

Ngoài ra, người sử dụng lao động cần lưu ý giới hạn số giờ làm thêm tối đa theo khoản 2 Điều 107: không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, không quá 40 giờ/tháng và không quá 200 giờ/năm, trừ một số trường hợp đặc biệt được quy định. Việc thỏa thuận làm thêm vượt các giới hạn này là vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt hành chính.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Lao động 2019 (45/2019/QH14) - Điều 98 về tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm
  • Bộ luật Lao động 2019 (45/2019/QH14) - Điều 107 về làm thêm giờ
  • Bộ luật Lao động 2019 (45/2019/QH14) - Điều 105 về thời giờ làm việc bình thường
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp