Điều 680. Thừa kế 1. Thừa kế được xác định theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch ngay trước khi chết. 2. Việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Có. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được nhận thừa kế tại Việt Nam. Quyền này được ghi nhận trực tiếp tại Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015: cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật, không phân biệt quốc tịch hay nơi cư trú.
Đối với thừa kế có yếu tố nước ngoài, Điều 680 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
Ví dụ: ông A, công dân Việt Nam, chết tại Việt Nam để lại căn nhà tại TP.HCM không có di chúc. Con trai ông A đã nhập quốc tịch Đức và định cư tại Berlin. Theo Điều 680, pháp luật Việt Nam điều chỉnh việc chia di sản. Con trai ông A thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo Điều 651, được hưởng phần di sản như những người thừa kế đang cư trú trong nước.
Riêng bất động sản là quyền sử dụng đất, cần đối chiếu Luật Đất đai 2024. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam thì được nhận thừa kế quyền sử dụng đất. Trường hợp không thuộc diện được sở hữu nhà ở, người thừa kế vẫn được hưởng giá trị quyền sử dụng đất nhưng phải chuyển nhượng phần quyền sử dụng đất đó cho chủ thể khác đủ điều kiện theo quy định.
Kết luận: pháp luật Việt Nam không tước quyền thừa kế của người định cư nước ngoài. Khác biệt chỉ nằm ở cơ chế thực hiện quyền đối với đất đai, không phải ở tư cách hưởng di sản.
Khi quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài — chẳng hạn người để lại di sản là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người thừa kế là người nước ngoài, hoặc di sản là bất động sản tọa lạc ở nước ngoài — việc xác định luật áp dụng phải căn cứ vào Điều 680 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài được điều chỉnh theo pháp luật của nước mà người để lại di sản có quốc tịch ngay trước khi chết. Đây là nguyên tắc luật quốc tịch, áp dụng thống nhất cho cả động sản và bất động sản, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác.
Riêng đối với quyền thừa kế bất động sản, khoản 2 Điều 680 quy định việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản phải tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó. Ví dụ: ông A, quốc tịch Việt Nam, định cư tại Hoa Kỳ, qua đời để lại căn nhà tại Thành phố Hồ Chí Minh. Việc xác định hàng thừa kế, diện thừa kế áp dụng pháp luật Việt Nam theo quốc tịch của ông A; nhưng trình tự, thủ tục đăng ký quyền sở hữu, điều kiện nhận thừa kế nhà đất phải tuân theo pháp luật Việt Nam với tư cách là pháp luật nơi có bất động sản.
Về tư cách hưởng di sản, Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015 khẳng định cá nhân có quyền lập di chúc định đoạt tài sản của mình, cũng như quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được Nhà nước Việt Nam bảo hộ quyền sở hữu tài sản hợp pháp, do đó vẫn có đầy đủ quyền thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Đối với quyền sử dụng đất, Luật Đất đai 2024 quy định người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, được nhận thừa kế quyền sử dụng đất ở trong nước. Trường hợp người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện được nhận thừa kế quyền sử dụng đất thì được hưởng giá trị của phần di sản đó theo quy định của pháp luật dân sự.
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam có đầy đủ quyền nhận thừa kế nhà đất theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế. Pháp luật không phân biệt người thừa kế đang cư trú trong nước hay định cư ở nước ngoài, miễn đáp ứng điều kiện về nhân thân nêu trên.
Về quyền nhận thừa kế nhà đất, Luật Đất đai 2024 quy định người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất thông qua nhận thừa kế quyền sử dụng đất. Đối với đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam được nhận thừa kế quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất. Trường hợp không thuộc diện được sở hữu nhà ở, người thừa kế vẫn được hưởng giá trị phần di sản nhưng không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; phần di sản này được giải quyết bằng cách chuyển nhượng cho người khác hoặc thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai.
Đối với thừa kế có yếu tố nước ngoài, Điều 680 Bộ luật Dân sự 2015 xác định thừa kế theo pháp luật phải tuân theo pháp luật của nước mà người để lại di sản có quốc tịch ngay trước khi chết. Như vậy, nếu người để lại di sản là công dân Việt Nam, dù tài sản là nhà đất tại Việt Nam hay người thừa kế định cư ở nước ngoài, quan hệ thừa kế vẫn được điều chỉnh theo pháp luật Việt Nam.
Ví dụ thực tiễn: Ông A là công dân Việt Nam, có con trai B đã định cư tại Hoa Kỳ và vẫn còn quốc tịch Việt Nam. Ông A qua đời để lại căn nhà gắn liền quyền sử dụng đất ở tại Thành phố Hồ Chí Minh. B thuộc diện người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam nên có quyền nhận thừa kế căn nhà và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở theo quy định của Luật Đất đai 2024.
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở có quyền nhận thừa kế quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất. Tuy nhiên, pháp luật đất đai đặt ra những hạn chế nhất định nhằm bảo đảm quản lý nhà nước về đất đai và an ninh quốc gia.
Thứ nhất, hạn chế về loại đất được nhận thừa kế. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chỉ được nhận thừa kế quyền sử dụng đất ở và loại đất khác trong cùng thửa đất có nhà ở, không được nhận thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở. Trường hợp nhận thừa kế đất nông nghiệp, người thừa kế không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chỉ được hưởng giá trị quyền sử dụng đất đó.
Thứ hai, hạn chế về quyền của người nhận thừa kế. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận thừa kế quyền sử dụng đất ở có quyền sử dụng đất ổn định lâu dài, được chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, đối với trường hợp nhận thừa kế đất ở gắn với nhà ở, việc chuyển nhượng, tặng cho chỉ được thực hiện cho đối tượng thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
Thứ ba, hạn chế về nghĩa vụ tài chính và thủ tục hành chính. Người nhận thừa kế phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo quy định, bao gồm lệ phí trước bạ, thuế thu nhập cá nhân (trừ trường hợp được miễn theo quy định). Đồng thời, phải làm thủ tục đăng ký biến động đất đai tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong thời hạn luật định.
Ví dụ thực tiễn: Ông A định cư tại Hoa Kỳ, được hưởng thừa kế từ cha mẹ một thửa đất ở tại quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông A được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Tuy nhiên, nếu cha mẹ ông A để lại thửa đất trồng lúa tại tỉnh Long An, ông A không được nhận quyền sử dụng đất mà chỉ được hưởng giá trị quyền sử dụng đất bằng tiền.
Căn cứ pháp lý: Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015 quy định cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình, để lại tài sản cho người thừa kế theo pháp luật. Điều 680 Bộ luật Dân sự 2015 xác định thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người để lại di sản có quốc tịch trước khi chết. Luật Đất đai 2024 quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi nhận thừa kế quyền sử dụng đất.
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam theo quy định của Luật Đất đai 2024 có quyền hưởng thừa kế quyền sử dụng đất theo pháp luật Việt Nam. Căn cứ Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; người thừa kế theo pháp luật được xác định theo hàng thừa kế quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015. Trường hợp thừa kế có yếu tố nước ngoài, Điều 680 Bộ luật Dân sự 2015 xác định pháp luật áp dụng đối với thừa kế theo pháp luật là pháp luật của nước mà người để lại di sản có quốc tịch trước khi chết. Tuy nhiên, đối với bất động sản tại Việt Nam, việc xác lập, thực hiện quyền sở hữu và đăng ký quyền sử dụng đất phải tuân theo pháp luật Việt Nam.
Thủ tục khai nhận di sản thừa kế được thực hiện tại tổ chức hành nghề công chứng nơi có bất động sản. Người thừa kế chuẩn bị hồ sơ gồm: giấy chứng tử của người để lại di sản, di chúc (nếu có), giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế, giấy tờ về quyền sử dụng đất, giấy tờ tùy thân của người thừa kế. Công chứng viên tiến hành niêm yết công khai việc thụ lý khai nhận tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có bất động sản trong thời hạn 15 ngày. Hết thời hạn niêm yết, nếu không có khiếu nại, tố cáo, công chứng viên lập văn bản khai nhận di sản thừa kế hoặc văn bản thỏa thuận phân chia di sản.
Sau khi có văn bản khai nhận, người thừa kế nộp hồ sơ đăng ký biến động đất đai tại Văn phòng đăng ký đất đai hoặc chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai. Hồ sơ gồm đơn đăng ký biến động, văn bản khai nhận di sản, bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy tờ tùy thân. Ví dụ thực tiễn: ông A quốc tịch Việt Nam định cư tại Hoa Kỳ được cha mẹ để lại thừa kế một thửa đất ở tại quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông A phải thực hiện khai nhận tại Phòng công chứng quận Bình Thạnh, sau đó nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận Bình Thạnh để được cập nhật tên người sử dụng đất trên Giấy chứng nhận.
Lưu ý: người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam chỉ được hưởng giá trị quyền sử dụng đất, không được đứng tên trên Giấy chứng nhận. Trường hợp này, người thừa kế có thể chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác hoặc tặng cho cá nhân thuộc diện được nhận theo quy định của Luật Đất đai 2024.
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Việt Nam có quyền ủy quyền cho người thân đang cư trú trong nước thay mặt thực hiện các thủ tục khai nhận, phân chia di sản và đăng ký biến động đất đai. Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản, có công chứng hoặc chứng thực theo quy định tại Điều 562 Bộ luật Dân sự 2015 về hợp đồng ủy quyền. Đối với người đang ở nước ngoài, văn bản ủy quyền có thể được lập tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước sở tại hoặc được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật về công chứng, chứng thực.
Căn cứ Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015, cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc có quyền hưởng di sản không phụ thuộc vào nơi cư trú. Điều 680 Bộ luật Dân sự 2015 xác định thừa kế theo pháp luật có yếu tố nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước mà người để lại di sản có quốc tịch trước khi chết, đồng thời việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản tại Việt Nam phải tuân theo pháp luật Việt Nam. Như vậy, dù người thừa kế đang định cư ở nước ngoài, quyền hưởng di sản là bất động sản tại Việt Nam vẫn được pháp luật bảo hộ.
Về quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Luật Đất đai 2024 quy định người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam có quyền nhận thừa kế quyền sử dụng đất, nhận tặng cho nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở. Trường hợp không thuộc diện được nhận thừa kế quyền sử dụng đất trực tiếp, người thừa kế vẫn có quyền hưởng giá trị của phần di sản đó.
Ví dụ thực tiễn: Ông A định cư tại Hoa Kỳ, được hưởng thừa kế một thửa đất ở tại tỉnh Bình Dương từ cha mẹ để lại. Ông A không thể trực tiếp về Việt Nam làm thủ tục nên lập giấy ủy quyền tại Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Hoa Kỳ, ủy quyền cho em trai đang cư trú tại Việt Nam thay mặt kê khai di sản thừa kế, nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký đất đai và nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong văn bản ủy quyền cần ghi rõ phạm vi công việc được ủy quyền, thời hạn ủy quyền và cam kết chịu trách nhiệm về hậu quả pháp lý phát sinh từ việc ủy quyền.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.