Kết hôn, ly hôn có yếu tố nước ngoài: thẩm quyền và thủ tục | Công ty Luật Minh Bạch

Kết hôn, ly hôn có yếu tố nước ngoài: thẩm quyền và thủ tục

Hôn nhân & Gia đình · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Quan hệ hôn nhân nào là có yếu tố nước ngoài
  2. Áp dụng pháp luật đối với quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
  3. Kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
  4. Đăng ký kết hôn tại cơ quan đại diện ngoại giao
  5. Ly hôn có yếu tố nước ngoài: thẩm quyền
  6. Công nhận bản án ly hôn của Tòa án nước ngoài

Điều 121. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài 1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. 2. Trong quan hệ hôn nhân và gia đình với công dân Việt Nam, người nước ngoài tại Việt Nam có các quyền, nghĩa vụ như công dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác. 3. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế. 4. Chính phủ quy định chi tiết việc giải quyết quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên và bảo đảm thực hiện quy định tại khoản 2 Điều 5 của Luật này.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Quan hệ hôn nhân nào là có yếu tố nước ngoài

Luật Hôn nhân và gia đình 2014 không dùng cụm từ “quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài” mà quy định khái niệm rộng hơn tại khoản 25 Điều 3: quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ có ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; hoặc quan hệ phát sinh tại nước ngoài; hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Từ định nghĩa này, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài được xác định theo ba dấu hiệu chính.

Thứ nhất, yếu tố nước ngoài về chủ thể. Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam với người Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; hoặc giữa người Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau. Ví dụ: chị A quốc tịch Việt Nam kết hôn với anh B quốc tịch Hàn Quốc tại Việt Nam là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài về chủ thể.

Thứ hai, yếu tố nước ngoài về sự kiện pháp lý. Việc kết hôn hoặc ly hôn được thực hiện ở nước ngoài, không phụ thuộc quốc tịch của các bên. Ví dụ: hai công dân Việt Nam đăng ký kết hôn tại Hoa Kỳ, sau đó yêu cầu ly hôn tại Việt Nam. Quan hệ này vẫn có yếu tố nước ngoài vì sự kiện kết hôn phát sinh ở nước ngoài.

Thứ ba, yếu tố nước ngoài về tài sản. Tài sản chung hoặc riêng của vợ chồng liên quan đến quan hệ hôn nhân nằm ở nước ngoài. Ví dụ: vợ chồng đều là công dân Việt Nam, cư trú tại Việt Nam, nhưng có bất động sản tại Úc. Khi ly hôn, tranh chấp tài sản này làm phát sinh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài.

Việc xác định đúng yếu tố nước ngoài có ý nghĩa quyết định đến thẩm quyền giải quyết và pháp luật áp dụng theo Điều 121, Điều 122, Điều 126 và Điều 127 của Luật này. Chỉ cần tồn tại một trong ba dấu hiệu nêu trên, quan hệ hôn nhân đã được coi là có yếu tố nước ngoài và chịu sự điều chỉnh của các quy định riêng về thẩm quyền, thủ tục, không áp dụng như quan hệ hôn nhân thuần túy trong nước.

2. Áp dụng pháp luật đối với quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài

Việc áp dụng pháp luật đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được thực hiện theo nguyên tắc tôn trọng pháp luật của các bên liên quan, đồng thời bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam và không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Theo Điều 121 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, các bên trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Điều 122 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định cụ thể nguyên tắc chọn luật áp dụng. Theo đó, pháp luật được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được xác định theo quy định của pháp luật Việt Nam; trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng điều ước quốc tế đó. Điều này bảo đảm tính thống nhất và dự liệu được của pháp luật khi giải quyết các quan hệ có yếu tố nước ngoài.

Đối với kết hôn có yếu tố nước ngoài, Điều 126 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 xác định: điều kiện kết hôn của mỗi bên được áp dụng theo pháp luật của nước mà bên đó là công dân; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo các quy định về điều kiện kết hôn của Luật này. Ví dụ, công dân Việt Nam kết hôn với công dân Pháp tại Việt Nam: điều kiện kết hôn của công dân Việt Nam áp dụng theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, điều kiện kết hôn của công dân Pháp áp dụng theo pháp luật Pháp, đồng thời công dân Pháp phải đáp ứng điều kiện kết hôn theo pháp luật Việt Nam.

Đối với ly hôn có yếu tố nước ngoài, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định: việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam được giải quyết theo quy định của Luật này. Trường hợp vợ chồng đều là người nước ngoài không thường trú tại Việt Nam nhưng yêu cầu ly hôn tại Việt Nam thì áp dụng pháp luật của nước nơi họ thường trú chung; nếu không có nơi thường trú chung thì áp dụng pháp luật Việt Nam. Quy định này tạo cơ chế linh hoạt, bảo đảm quyền yêu cầu ly hôn của các bên được giải quyết kịp thời, đúng pháp luật.

3. Kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

Kết hôn có yếu tố nước ngoài là việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài thường trú tại Việt Nam với nhau, hoặc giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ xác lập quan hệ hôn nhân theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc liên quan đến tài sản ở nước ngoài. Theo Điều 126 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được thực hiện tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này; trường hợp kết hôn được thực hiện tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì vẫn được công nhận tại Việt Nam nếu không trái với quy định tại Điều 8 của Luật.

Về điều kiện kết hôn, Điều 122 quy định việc áp dụng pháp luật đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài: điều kiện kết hôn của mỗi bên được xác định theo pháp luật của nước mà bên đó là công dân; nếu việc kết hôn được thực hiện tại Việt Nam thì người nước ngoài còn phải đáp ứng điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam. Như vậy, công dân Việt Nam phải tuân thủ đầy đủ điều kiện kết hôn tại các điều 8, 9, 10, 11 của Luật, còn người nước ngoài phải đồng thời đáp ứng điều kiện theo pháp luật nước mà họ mang quốc tịch và điều kiện theo pháp luật Việt Nam.

Ví dụ thực tiễn: chị A là công dân Việt Nam kết hôn với anh B là công dân Hoa Kỳ tại Việt Nam. Chị A phải đủ tuổi kết hôn, không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo pháp luật Việt Nam. Anh B phải đáp ứng điều kiện kết hôn theo pháp luật Hoa Kỳ (ví dụ đủ tuổi kết hôn theo quy định của bang nơi anh cư trú, không đang có vợ) đồng thời đáp ứng điều kiện theo pháp luật Việt Nam. Hồ sơ đăng ký kết hôn nộp tại Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam; giấy tờ của người nước ngoài phải được hợp pháp hóa lãnh sự và dịch sang tiếng Việt có chứng thực.

Điều 121 nhấn mạnh nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài: Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài và của các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và tập quán quốc tế. Nguyên tắc này bảo đảm quyền kết hôn hợp pháp của công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 2 của Luật.

4. Đăng ký kết hôn tại cơ quan đại diện ngoại giao

Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài có thể đăng ký kết hôn tại cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước sở tại theo quy định tại khoản 2 Điều 126 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Thẩm quyền này được xác lập trên nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên theo Điều 121 và nguyên tắc áp dụng pháp luật đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài theo Điều 122 của Luật.

Về điều kiện kết hôn, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mà mình là công dân; trường hợp kết hôn tại cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam thì áp dụng pháp luật Việt Nam đối với công dân Việt Nam và pháp luật nước mà người nước ngoài là công dân đối với người đó, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác. Việc kết hôn không được trái với các điều cấm và điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, như cấm kết hôn giả tạo, cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu trực hệ hoặc có họ trong phạm vi ba đời.

Ví dụ thực tiễn: công dân Việt Nam đang lao động, học tập tại Cộng hòa Liên bang Đức muốn kết hôn với công dân Đức có thể nộp hồ sơ đăng ký kết hôn tại Đại sứ quán Việt Nam tại Berlin. Cơ quan đại diện có trách nhiệm kiểm tra điều kiện kết hôn của mỗi bên theo pháp luật tương ứng, niêm yết việc đăng ký kết hôn và thực hiện nghi thức kết hôn theo quy định. Giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan đại diện cấp có giá trị pháp lý như giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan có thẩm quyền trong nước cấp.

Quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam ở nước ngoài thực hiện quyền kết hôn hợp pháp, đồng thời bảo đảm sự kiểm soát của Nhà nước đối với quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, phòng ngừa hành vi lợi dụng kết hôn để trục lợi hoặc vi phạm pháp luật.

5. Ly hôn có yếu tố nước ngoài: thẩm quyền

Thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài được xác định theo nguyên tắc chung tại Điều 121 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết việc ly hôn theo quy định của Luật này khi một bên hoặc cả hai bên là công dân Việt Nam, hoặc khi một bên là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam. Điều 122 quy định việc áp dụng pháp luật đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; trường hợp điều ước quốc tế không quy định thì áp dụng pháp luật Việt Nam.

Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định cụ thể về ly hôn có yếu tố nước ngoài. Theo đó, việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này. Trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.

Về thẩm quyền theo cấp xét xử, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm tranh chấp ly hôn có đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản ở nước ngoài theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ví dụ thực tiễn: chị A là công dân Việt Nam kết hôn với anh B là công dân Hoa Kỳ, cả hai đăng ký kết hôn tại Việt Nam và cùng sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Khi phát sinh mâu thuẫn, chị A nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án này có thẩm quyền thụ lý vì một bên là công dân Việt Nam, bên kia là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam, phù hợp với Điều 121 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Trường hợp cả hai vợ chồng đều là người nước ngoài nhưng thường trú tại Việt Nam, Tòa án Việt Nam vẫn có thẩm quyền giải quyết ly hôn theo Điều 127. Ngược lại, nếu công dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam và vợ chồng có nơi thường trú chung ở nước ngoài, thẩm quyền thuộc về cơ quan có thẩm quyền của nước nơi thường trú chung; Tòa án Việt Nam chỉ giải quyết khi không xác định được nơi thường trú chung.

6. Công nhận bản án ly hôn của Tòa án nước ngoài

Việc công nhận bản án ly hôn của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam được đặt trong khuôn khổ nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên theo Điều 121 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Theo đó, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam và người nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài được tôn trọng và bảo vệ theo pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Điều 122 của Luật này xác định nguyên tắc áp dụng pháp luật đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trong đó pháp luật nước ngoài được áp dụng nếu không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

Đối với ly hôn có yếu tố nước ngoài, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về thẩm quyền giải quyết và pháp luật áp dụng. Khi một bên là công dân Việt Nam đã ly hôn theo bản án của Tòa án nước ngoài, bản án đó chỉ phát sinh hiệu lực pháp lý tại Việt Nam sau khi được Tòa án Việt Nam công nhận theo thủ tục tố tụng dân sự. Việc công nhận này nhằm bảo đảm bản án không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam.

Ví dụ thực tiễn: chị A là công dân Việt Nam kết hôn với anh B là công dân Hàn Quốc, sau đó ly hôn tại Tòa án Hàn Quốc. Để bản án ly hôn của Tòa án Hàn Quốc có giá trị tại Việt Nam, chị A phải làm thủ tục yêu cầu Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi chị cư trú công nhận bản án đó. Nếu bản án đáp ứng các điều kiện về thẩm quyền xét xử, tính hợp pháp của thủ tục tố tụng và không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, Tòa án Việt Nam sẽ ra quyết định công nhận. Kể từ thời điểm quyết định có hiệu lực, quan hệ hôn nhân giữa chị A và anh B chấm dứt tại Việt Nam, chị A có quyền đăng ký kết hôn mới theo quy định tại Điều 126 về kết hôn có yếu tố nước ngoài.

Như vậy, việc công nhận bản án ly hôn của Tòa án nước ngoài là cơ chế pháp lý quan trọng nhằm dung hòa giữa tôn trọng phán quyết của cơ quan tài phán nước ngoài và bảo vệ trật tự công cộng, quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (52/2014/QH13) - Điều 121 về bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên
  • Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (52/2014/QH13) - Điều 122 về áp dụng pháp luật đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
  • Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (52/2014/QH13) - Điều 126 về kết hôn có yếu tố nước ngoài
  • Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (52/2014/QH13) - Điều 127 về ly hôn có yếu tố nước ngoài
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp