Điều 85. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên 1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây: a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; b) Phá tán tài sản của con; c) Có lối sống đồi trụy; d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. 2. Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Theo Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên khi thuộc một trong các trường hợp sau:
Đây là các căn cứ thể hiện cha, mẹ không còn đủ điều kiện thực hiện nghĩa vụ, quyền quy định tại Điều 69 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 — thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con. Khi hành vi của cha, mẹ gây nguy hại cho sự phát triển lành mạnh của con, pháp luật đặt lợi ích của con lên trên quyền làm cha, làm mẹ.
Ví dụ thực tiễn: cha thường xuyên bạo hành, đánh đập con gây thương tích và bị Tòa án kết án về tội cố ý gây thương tích — thuộc trường hợp bị hạn chế quyền. Hoặc mẹ nghiện ma túy, bỏ mặc con không chăm sóc, để con rơi vào tình trạng suy dinh dưỡng nghiêm trọng, không được đi học — hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Việc hạn chế quyền chỉ do Tòa án quyết định. Theo Điều 86, người có quyền yêu cầu gồm: cha, mẹ, người giám hộ của con chưa thành niên; người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em; hoặc tổ chức, cá nhân khác theo quy định. Tòa án xem xét từng trường hợp cụ thể, cân nhắc mức độ vi phạm và lợi ích tốt nhất của con trước khi ra quyết định hạn chế.
Pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam ghi nhận cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chưa thành niên theo quy định tại Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, khi cha, mẹ không thực hiện đúng hoặc lạm dụng các quyền này, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của con, Tòa án có thể áp dụng biện pháp hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
Theo khoản 1 Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:
Việc hạn chế quyền của cha, mẹ chỉ được thực hiện khi có quyết định của Tòa án, dựa trên yêu cầu của các chủ thể quy định tại Điều 86 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, bao gồm cha, mẹ, người giám hộ, người thân thích của con, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em hoặc hội liên hiệp phụ nữ. Tòa án sẽ xem xét tính chất, mức độ của hành vi vi phạm và lợi ích tốt nhất của con trước khi ra quyết định hạn chế quyền.
Theo quy định tại Điều 86 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, những chủ thể sau đây có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên:
Thứ nhất, cha, mẹ của người con chưa thành niên. Đây là trường hợp một bên cha hoặc mẹ có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại Điều 69 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, thì bên còn lại có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của người vi phạm. Ví dụ, người cha thường xuyên bạo hành con, người mẹ bỏ mặc con không chăm sóc dẫn đến con bị xâm hại, thì bên cha hoặc mẹ còn lại có thể yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của người kia nhằm bảo vệ lợi ích tốt nhất của con.
Thứ hai, người thân thích của con chưa thành niên. Người thân thích bao gồm ông, bà, anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột của con. Khi nhận thấy cha, mẹ có hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của con mà không có bên cha, mẹ nào đứng ra yêu cầu, thì những người thân thích này có quyền yêu cầu Tòa án can thiệp. Ví dụ, cả cha và mẹ đều nghiện ma túy, bỏ mặc con cho người thân nuôi dưỡng nhưng không thực hiện trách nhiệm, thì ông bà của con có thể yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cả cha và mẹ.
Thứ ba, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền. Bao gồm cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ và các tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật. Các chủ thể này có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ khi phát hiện hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con. Ví dụ, Ủy ban nhân dân cấp xã phát hiện trẻ em bị cha, mẹ bạo hành, xâm hại tình dục thì có quyền đề nghị Tòa án xem xét hạn chế quyền của cha, mẹ.
Việc quy định đa dạng chủ thể có quyền yêu cầu nhằm bảo đảm cơ chế bảo vệ kịp thời, toàn diện đối với trẻ em, tránh tình trạng không có ai đứng ra bảo vệ quyền lợi của con khi cha, mẹ đều vi phạm nghĩa vụ.
Thủ tục yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên được thực hiện theo cơ chế giải quyết việc dân sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo Điều 86 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, người có quyền yêu cầu bao gồm: cha, mẹ, người giám hộ của con chưa thành niên; người thân thích của con; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của con chỉ có quyền đề nghị các chủ thể nêu trên yêu cầu Tòa án, không trực tiếp khởi kiện.
Người yêu cầu nộp đơn tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi con chưa thành niên cư trú. Hồ sơ gồm đơn yêu cầu nêu rõ căn cứ hạn chế quyền theo khoản 1 Điều 85, kèm tài liệu, chứng cứ chứng minh cha, mẹ đã bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con; có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; phá tán tài sản riêng của con; hoặc có lối sống đồi trụy, xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Tòa án thụ lý, xác minh và mở phiên họp giải quyết việc dân sự; thời hạn giải quyết theo quy định chung về việc dân sự, thường từ hai đến bốn tháng tùy tính chất vụ việc.
Ví dụ thực tiễn: người mẹ bị kết án về tội cố ý gây thương tích đối với con riêng của chồng. Người cha đẻ của cháu nộp đơn kèm bản án đã có hiệu lực pháp luật yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của người mẹ. Tòa án căn cứ điểm a khoản 1 Điều 85 ra quyết định hạn chế quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục con trong thời hạn từ một đến năm năm. Trong thời gian bị hạn chế, người mẹ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo Điều 69, vì hạn chế quyền không làm chấm dứt nghĩa vụ nuôi dưỡng.
Việc Tòa án ra quyết định hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên làm phát sinh những hậu quả pháp lý trực tiếp đối với quan hệ giữa cha, mẹ và con. Theo khoản 1 Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cha, mẹ bị hạn chế quyền không còn được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong phạm vi quyền bị hạn chế. Đây là hậu quả pháp lý cơ bản nhất: các quyền nhân thân và quyền tài sản gắn với tư cách người đại diện đương nhiên của cha, mẹ bị đình chỉ trong thời hạn do Tòa án ấn định.
Hậu quả pháp lý thứ hai là việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cho người giám hộ. Theo khoản 2 Điều 85, việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài sản riêng của con được giao cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật Dân sự. Người giám hộ sẽ thay thế cha, mẹ thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với con trong phạm vi quyền bị hạn chế. Ví dụ, khi người cha bị Tòa án tuyên hạn chế quyền quản lý tài sản riêng của con do có hành vi phá tán tài sản, người giám hộ sẽ tiếp nhận và quản lý khối tài sản đó, mọi giao dịch liên quan đến tài sản của con phải do người giám hộ thực hiện theo quy định pháp luật.
Hậu quả pháp lý thứ ba liên quan đến nghĩa vụ cấp dưỡng. Việc hạn chế quyền không làm chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con chưa thành niên. Theo Điều 69 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cha, mẹ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con chưa thành niên. Nghĩa vụ này mang tính độc lập, không bị triệt tiêu bởi việc hạn chế quyền. Do đó, cha, mẹ bị hạn chế quyền vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quyết định của Tòa án hoặc theo thỏa thuận hợp pháp.
Hậu quả pháp lý thứ tư là tính có thời hạn và khả năng khôi phục. Theo khoản 3 Điều 85, khi căn cứ hạn chế quyền không còn, Tòa án có thể ra quyết định chấm dứt việc hạn chế quyền theo yêu cầu của chính cha, mẹ hoặc của người có quyền yêu cầu quy định tại Điều 86. Như vậy, hậu quả pháp lý của việc hạn chế quyền không mang tính vĩnh viễn mà có thể được khôi phục khi điều kiện thực tế thay đổi, bảo đảm nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của con.
Khôi phục quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên là cơ chế pháp lý nhằm chấm dứt tình trạng hạn chế quyền khi căn cứ hạn chế không còn tồn tại. Theo khoản 3 Điều 85 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định chấm dứt việc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
Việc khôi phục quyền chỉ được đặt ra khi cha, mẹ đã chấm dứt hành vi vi phạm nghĩa vụ, không còn lạm dụng quyền đối với con, không còn hành vi phá tán tài sản riêng của con hoặc đã khắc phục được tình trạng khiến con bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần. Nói cách khác, điều kiện tiên quyết là căn cứ dẫn đến việc hạn chế quyền đã được loại bỏ trên thực tế, bảo đảm lợi ích tốt nhất của con chưa thành niên.
Về chủ thể có quyền yêu cầu, Điều 86 liệt kê cha, mẹ, người giám hộ, người thân thích của con, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em và hội liên hiệp phụ nữ. Như vậy, chính cha, mẹ bị hạn chế quyền cũng có quyền yêu cầu Tòa án xem xét khôi phục quyền khi đã có sự thay đổi tích cực, chứng minh được mình đủ điều kiện tiếp tục thực hiện nghĩa vụ và quyền theo Điều 69 của Luật này.
Ví dụ thực tiễn: người cha từng bị hạn chế quyền do bạo hành con, sau đó đã tham gia điều trị tâm lý, có xác nhận của cơ sở y tế về sự ổn định hành vi và cam kết chăm sóc con đúng pháp luật, có thể yêu cầu Tòa án chấm dứt hạn chế quyền. Tòa án sẽ xem xét toàn diện hồ sơ, lấy ý kiến của con từ đủ bảy tuổi trở lên khi cần thiết, bảo đảm quyết định phù hợp với lợi ích của trẻ.
Khi quyền được khôi phục, cha, mẹ tiếp tục thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và quyền quy định tại Điều 69, bao gồm trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.