Điều 126. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn 1. Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. 2. Giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 126 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch, thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu. Tuy nhiên, giao dịch dân sự không bị vô hiệu nếu các bên đã khắc phục được sự nhầm lẫn làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch vẫn đạt được.
Nhầm lẫn là việc chủ thể nhận thức sai về nội dung của giao dịch, dẫn đến ý chí thể hiện ra bên ngoài không đúng với mong muốn thực sự. Nhầm lẫn có thể về đối tượng, về bản chất của giao dịch, về các đặc tính cơ bản của tài sản hoặc về chủ thể tham gia giao dịch. Điều kiện để giao dịch vô hiệu do nhầm lẫn gồm: (i) có sự nhầm lẫn của một bên hoặc các bên; (ii) sự nhầm lẫn đó mang tính bản chất, làm cho bên bị nhầm lẫn không đạt được mục đích của giao dịch; (iii) nhầm lẫn không do lỗi cố ý của bên kia tạo ra — nếu có hành vi cố ý gây nhầm lẫn thì thuộc trường hợp lừa dối theo Điều 127.
Ví dụ thực tiễn: A mua của B một bức tranh với giá 500 triệu đồng vì tin rằng đó là tranh gốc của họa sĩ nổi tiếng. Sau đó A phát hiện tranh chỉ là bản sao chép. A đã nhầm lẫn về đặc tính cơ bản của tài sản, không đạt được mục đích sở hữu tranh gốc. A có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu theo Điều 126. Ngược lại, nếu B chủ động giới thiệu tranh sao chép là tranh gốc để bán được giá cao, hành vi của B cấu thành lừa dối theo Điều 127.
Về hậu quả pháp lý, khi giao dịch vô hiệu do nhầm lẫn, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận theo quy định tại Điều 131. Bên có lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn phải bồi thường thiệt hại. Thời hiệu yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu do nhầm lẫn là 02 năm kể từ ngày người bị nhầm lẫn biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do nhầm lẫn, theo quy định tại khoản 1 Điều 132.
Điều kiện tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối được quy định tại Điều 127 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, khi một bên tham gia giao dịch do bị lừa dối thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó vô hiệu.
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó. Như vậy, để tuyên bố giao dịch vô hiệu do lừa dối, cần hội tụ các điều kiện: (i) có hành vi cố ý đưa thông tin gian dối hoặc cố ý che giấu sự thật; (ii) hành vi đó tác động đến nhận thức của bên bị lừa dối, khiến họ hiểu sai về chủ thể, tính chất đối tượng hoặc nội dung giao dịch; (iii) sự hiểu sai lệch này là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc xác lập giao dịch.
Ví dụ thực tiễn: A bán cho B một chiếc xe máy đã qua sử dụng nhưng cố ý làm giả giấy tờ, khai xe chưa từng bị tai nạn, chưa bị thế chấp ngân hàng. Tin vào thông tin gian dối này, B ký hợp đồng mua xe. Trường hợp này, A đã cố ý đưa thông tin sai sự thật về tính chất đối tượng giao dịch, khiến B hiểu sai và xác lập hợp đồng. B có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu theo Điều 127.
Lưu ý, lừa dối phải xuất phát từ hành vi cố ý; nếu một bên chỉ im lặng không cung cấp thông tin mà pháp luật không buộc phải cung cấp thì không đương nhiên bị coi là lừa dối. Ngoài ra, theo Điều 132, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối là 02 năm, kể từ ngày người bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị lừa dối.
Đe dọa, cưỡng ép trong giao kết là hành vi của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia lo sợ, buộc phải xác lập giao dịch dân sự nhằm tránh một thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của mình hoặc của người thân thích. Theo khoản 2 Điều 127 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự được xác lập do bị đe dọa, cưỡng ép sẽ vô hiệu khi có yêu cầu của bên bị đe dọa, cưỡng ép.
Bản chất của đe dọa, cưỡng ép là sự tác động trái pháp luật vào ý chí của chủ thể, khiến chủ thể không còn sự tự do, tự nguyện khi giao kết. Điều này xâm phạm trực tiếp nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận quy định tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015. Đe dọa có thể là hành vi dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần hoặc lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của bên kia để ép buộc giao kết. Cưỡng ép là việc dùng quyền lực, sức mạnh hoặc thủ đoạn khác buộc bên kia phải giao kết trái với mong muốn thực sự của họ.
Ví dụ thực tiễn: Ông A bị ông B đe dọa sẽ gây thương tích cho con trai nếu không ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá thấp hơn nhiều so với giá thị trường. Vì lo sợ cho an toàn của con, ông A buộc phải ký hợp đồng. Trong trường hợp này, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu do bị đe dọa theo khoản 2 Điều 127 Bộ luật Dân sự 2015. Ông A có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu.
Về thời hiệu yêu cầu, theo Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do bị đe dọa, cưỡng ép là 02 năm, kể từ ngày hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt. Đây là điểm khác biệt quan trọng so với giao dịch vô hiệu do nhầm lẫn quy định tại Điều 126 Bộ luật Dân sự 2015, vì thời điểm bắt đầu tính thời hiệu không phải từ ngày giao dịch được xác lập mà từ khi hành vi đe dọa, cưỡng ép thực sự chấm dứt, bảo đảm quyền khởi kiện của bên bị đe dọa trong thời gian họ còn chịu sự khống chế về ý chí.
Theo quy định tại Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn, bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép là 02 năm, kể từ ngày:
Như vậy, pháp luật không quy định một mốc thời gian cố định cho mọi trường hợp mà xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu gắn liền với nhận thức chủ quan của bên bị xâm phạm quyền lợi. Đối với trường hợp nhầm lẫn hoặc lừa dối, thời hiệu chỉ bắt đầu khi bên bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc buộc phải biết về sự nhầm lẫn, sự lừa dối đó. Đối với trường hợp đe dọa, cưỡng ép, thời hiệu chỉ bắt đầu khi hành vi đe dọa, cưỡng ép đã chấm dứt, bởi trong thời gian bị đe dọa, cưỡng ép, bên bị đe dọa chưa thể tự do thể hiện ý chí để yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình.
Ví dụ thực tiễn: Ông A mua một lô đất của ông B. Khi giao kết, ông B cố ý cung cấp thông tin sai lệch rằng lô đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không có tranh chấp. Đến ngày 01/3/2024, ông A phát hiện lô đất thực tế đang có tranh chấp với người thứ ba. Thời hiệu 02 năm để ông A yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu do bị lừa dối sẽ được tính từ ngày 01/3/2024 đến hết ngày 01/3/2026. Nếu quá thời hạn này mà ông A không khởi kiện, ông A sẽ mất quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu theo Điều 127 Bộ luật Dân sự 2015.
Việc xác định đúng thời điểm bắt đầu tính thời hiệu có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn xét xử. Tòa án sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp để xác định thời điểm bên bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết về sự nhầm lẫn, lừa dối, hoặc thời điểm hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt. Trường hợp hết thời hiệu khởi kiện mà đương sự không có lý do chính đáng để yêu cầu áp dụng quy định về bắt đầu lại thời hiệu theo Điều 157 Bộ luật Dân sự 2015, yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu sẽ không được Tòa án chấp nhận.
Để yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, bên bị nhầm lẫn hoặc bị lừa dối phải chứng minh đầy đủ các yếu tố theo quy định tại Điều 126 và Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Đối với nhầm lẫn, người yêu cầu phải chứng minh: (i) tồn tại sự nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của giao dịch, ví dụ nhầm về đối tượng, tính chất của hàng hóa, giá trị tài sản; (ii) sự nhầm lẫn khiến một bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch; (iii) lỗi vô ý gây ra nhầm lẫn thuộc về bên kia. Ví dụ, bên mua tranh ký hợp đồng vì tin nhầm tranh là bản gốc của họa sĩ nổi tiếng, trong khi bên bán biết rõ là bản sao nhưng không thông báo, thì bên mua có thể chứng minh nhầm lẫn về tính chất của đối tượng.
Đối với lừa dối, theo Điều 127, người yêu cầu phải chứng minh: (i) bên kia hoặc người thứ ba có hành vi cố ý đưa thông tin sai sự thật hoặc cố ý che giấu thông tin; (ii) hành vi đó khiến bên bị lừa dối hiểu sai lệch về nội dung giao dịch; (iii) do hiểu sai nên bên bị lừa dối đã xác lập giao dịch. Ví dụ, bên bán đất cố ý giấu thông tin thửa đất đang bị quy hoạch thu hồi, dẫn đến bên mua ký hợp đồng chuyển nhượng; bên mua có thể chứng minh lừa dối bằng văn bản quy hoạch, lời khai người làm chứng hoặc dữ liệu tin nhắn thể hiện bên bán đã biết nhưng không tiết lộ.
Chứng cứ thường gồm văn bản hợp đồng, hồ sơ tài sản, thư từ, tin nhắn, email, ghi âm hợp pháp, lời khai người làm chứng, kết luận giám định. Nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu theo nguyên tắc tại khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Thời hiệu yêu cầu là hai năm kể từ ngày người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do nhầm lẫn, lừa dối theo quy định tại Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2015. Quá thời hiệu này, yêu cầu tuyên bố vô hiệu không còn được chấp nhận.
Hậu quả pháp lý. Giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn (Điều 126) hoặc do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép (Điều 127) Bộ luật Dân sự 2015 không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập. Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Ví dụ: A bán cho B chiếc xe máy nhưng do nhầm lẫn về đời xe nên B trả giá cao hơn giá trị thực. Khi Tòa án tuyên giao dịch vô hiệu, B trả lại xe, A trả lại tiền; nếu A có lỗi làm B tin nhầm, A phải bồi thường thiệt hại thực tế phát sinh.
Thời hiệu khởi kiện. Theo Điều 132, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép là 02 năm, kể từ ngày người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do nhầm lẫn, do bị lừa dối; đối với đe dọa, cưỡng ép thì tính từ ngày hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt. Hết thời hiệu mà không khởi kiện, giao dịch vẫn có hiệu lực pháp luật.
Lưu ý thực tiễn. Người yêu cầu vô hiệu phải chứng minh yếu tố nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc xác lập giao dịch; nhầm lẫn phải thuộc về nội dung chủ yếu của giao dịch. Bên thứ ba ngay tình nhận tài sản thông qua giao dịch vô hiệu do lừa dối, đe dọa vẫn được pháp luật bảo vệ trong trường hợp giao dịch không bị vô hiệu theo quy định khác. Cần thu thập chứng cứ kịp thời, ưu tiên thương lượng hoàn trả trước khi khởi kiện để giảm thiểu chi phí và thời gian.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.