Điều 93 BLTTDS 2015: Chứng cứ trong tố tụng dân sự | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 93 BLTTDS 2015: Chứng cứ trong tố tụng dân sự

Tố tụng dân sự & hành chính · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Nội dung Điều 93 BLTTDS 2015
  2. Chứng cứ trong tố tụng dân sự là gì
  3. Điều kiện để tài liệu, chứng cứ được coi là chứng cứ
  4. Các loại chứng cứ trong vụ án dân sự
  5. Giá trị pháp lý của chứng cứ
  6. Lưu ý về thu thập và bảo quản chứng cứ

Điều 93. Chứng cứ Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Nội dung Điều 93 BLTTDS 2015

Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 định nghĩa: chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật, được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.

Ba yếu tố cấu thành chứng cứ theo Điều 93: tính khách quan (có thật, tồn tại độc lập với ý chí chủ quan của người xuất trình); tính liên quan (liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến tình tiết cần chứng minh của vụ việc); tính hợp pháp (được thu thập, giao nộp theo đúng trình tự, thủ tục luật định). Thiếu một trong ba yếu tố, tài liệu, dữ liệu đó không được coi là chứng cứ.

Ví dụ thực tiễn: trong tranh chấp hợp đồng vay tài sản, giấy vay tiền có chữ ký của bên vay là chứng cứ nếu được giao nộp đúng thủ tục và nội dung phản ánh đúng giao dịch có thật. Ngược lại, bản ghi âm thu được bằng cách đặt máy ghi trái phép trong nhà riêng của đối phương có thể bị loại do vi phạm tính hợp pháp về phương thức thu thập.

Điều 93 phải đọc trong mối liên hệ với Điều 94 về nguồn chứng cứ và Điều 95 về xác định chứng cứ. Điều 94 liệt kê các nguồn: tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; dữ liệu điện tử; vật chứng; lời khai của đương sự, người làm chứng; kết luận giám định; biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; kết quả định giá, thẩm định giá; văn bản công chứng, chứng thực. Điều 95 quy định các nguồn đó chỉ trở thành chứng cứ khi được thu thập theo trình tự, thủ tục của Bộ luật này. Như vậy, Điều 93 giữ vai trò là quy phạm định nghĩa nền tảng, còn Điều 94 và Điều 95 cụ thể hóa nguồn và điều kiện xác lập giá trị chứng cứ.

2. Chứng cứ trong tố tụng dân sự là gì

Chứng cứ trong tố tụng dân sự là những gì có thật, được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp (khoản 1 Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).

Khái niệm này bao hàm ba dấu hiệu pháp lý cốt lõi. Thứ nhất, chứng cứ phải có thật, tức phản ánh đúng sự kiện, tình tiết khách quan đã xảy ra, không phải suy đoán hay hư cấu. Thứ hai, chứng cứ phải được thu thập hợp pháp, theo đúng trình tự, thủ tục luật định, từ việc đương sự giao nộp, xuất trình đến việc Tòa án tự mình hoặc theo yêu cầu tiến hành thu thập. Thứ ba, chứng cứ phải có giá trị chứng minh, được Tòa án dùng làm căn cứ giải quyết vụ việc dân sự.

Nguồn chứng cứ được quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bao gồm: tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; dữ liệu điện tử; vật chứng; lời khai của đương sự, người làm chứng; kết luận giám định; biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản; văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập; văn bản công chứng, chứng thực và các nguồn khác mà pháp luật có quy định. Việc xác định chứng cứ được thực hiện theo Điều 95 của Bộ luật này, theo đó tài liệu, dữ liệu chỉ được coi là chứng cứ khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện về tính có thật, tính hợp pháp và tính liên quan đến vụ việc.

Ví dụ thực tiễn: trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản, nguyên đơn giao nộp bản gốc giấy vay tiền có chữ ký của bị đơn. Giấy vay tiền này là tài liệu đọc được, có thật, được giao nộp hợp pháp và trực tiếp chứng minh quan hệ vay mượn, nên được xác định là chứng cứ. Ngược lại, một bản ghi âm thu được bằng cách bí mật đặt máy ghi âm trong nhà riêng của đối phương mà không được sự đồng ý có thể bị loại trừ do vi phạm tính hợp pháp trong thu thập chứng cứ.

3. Điều kiện để tài liệu, chứng cứ được coi là chứng cứ

Theo quy định tại khoản 1 Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật, được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc được Tòa án thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định. Từ định nghĩa này, có thể rút ra ba điều kiện cơ bản để tài liệu, chứng cứ được coi là chứng cứ hợp pháp.

Thứ nhất, chứng cứ phải có thật, tồn tại khách quan. Tài liệu, chứng cứ phải phản ánh đúng sự việc đã xảy ra, không bị làm giả, tẩy xóa, cắt ghép hoặc bịa đặt. Ví dụ, hợp đồng mua bán tài sản được các bên ký kết trên thực tế là chứng cứ có thật; ngược lại, hợp đồng được làm giả để chiếm đoạt tài sản không đáp ứng điều kiện này.

Thứ hai, chứng cứ phải được thu thập, giao nộp hợp pháp. Chứng cứ phải do đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Chứng cứ thu thập bằng biện pháp vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền con người, bí mật đời tư trái phép sẽ không được chấp nhận. Ví dụ, bản ghi âm cuộc nói chuyện thu được bằng cách đặt máy nghe lén trái phép không đủ điều kiện là chứng cứ hợp pháp.

Thứ ba, chứng cứ phải thuộc các nguồn quy định tại Điều 94 và được xác định theo Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Cụ thể, nguồn chứng cứ bao gồm: tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; dữ liệu điện tử; vật chứng; lời khai của đương sự, người làm chứng; kết luận giám định; biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản; văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập; văn bản công chứng, chứng thực. Việc xác định chứng cứ phải tuân theo quy định tại Điều 95, theo đó từng loại nguồn chứng cứ có cách thức xác định riêng. Ví dụ, dữ liệu điện tử được xác định là chứng cứ khi thể hiện dưới dạng trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

Như vậy, một tài liệu chỉ được coi là chứng cứ khi đồng thời đáp ứng đủ ba điều kiện nêu trên. Việc xác định đúng chứng cứ có ý nghĩa quyết định đến hoạt động chứng minh của đương sự và việc giải quyết vụ án của Tòa án, bảo đảm phán quyết dựa trên những tình tiết khách quan, hợp pháp.

4. Các loại chứng cứ trong vụ án dân sự

Điều 93 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 xác định chứng cứ là những gì có thật, được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp. Trên cơ sở đó, Điều 94 BLTTDS 2015 liệt kê mười nguồn chứng cứ, từ đó hình thành các loại chứng cứ tương ứng trong vụ án dân sự.

Thứ nhất, chứng cứ là tài liệu đọc được. Đây là loại chứng cứ phổ biến nhất, bao gồm văn bản, hợp đồng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hóa đơn, biên lai, thư từ, tin nhắn được in ra. Ví dụ, trong tranh chấp hợp đồng vay tài sản, giấy vay tiền có chữ ký của bên vay là chứng cứ trực tiếp xác định nghĩa vụ trả nợ.

Thứ hai, chứng cứ là tài liệu nghe được, nhìn được. Loại này bao gồm băng ghi âm, đĩa ghi hình, video, dữ liệu điện tử thể hiện âm thanh, hình ảnh. Chẳng hạn, đoạn ghi âm cuộc nói chuyện xác nhận nợ hoặc video ghi lại diễn biến va chạm giao thông có thể được xuất trình kèm văn bản xác nhận nguồn gốc theo quy định tại khoản 2 Điều 95 BLTTDS 2015.

Thứ ba, chứng cứ là vật chứng. Vật chứng là những vật gốc, vật thật liên quan trực tiếp đến vụ án, như tài sản tranh chấp, công trình xây dựng, hàng hóa bị hư hỏng. Ví dụ, trong tranh chấp chất lượng hàng hóa, lô hàng bị lỗi được niêm phong chính là vật chứng để Tòa án trưng cầu giám định.

Thứ tư, chứng cứ là lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng. Lời khai được ghi nhận bằng biên bản lấy lời khai hoặc trình bày trực tiếp tại phiên tòa. Tuy nhiên, lời khai chỉ có giá trị chứng minh khi phù hợp với các chứng cứ khác theo nguyên tắc đánh giá chứng cứ tại Điều 108 BLTTDS 2015.

Thứ năm, chứng cứ là kết luận giám định, biên bản định giá tài sản, văn bản xác nhận sự kiện pháp lý, văn bản công chứng, chứng thực và các nguồn khác theo quy định tại các khoản 5, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 94 BLTTDS 2015. Ví dụ, kết luận giám định thương tật trong vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là căn cứ xác định mức bồi thường; biên bản hòa giải thành tại Ủy ban nhân dân cấp xã là chứng cứ xác nhận sự kiện pháp lý trong tranh chấp đất đai.

Việc phân loại chứng cứ có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn xét xử, giúp đương sự xác định đúng tài liệu cần thu thập, giao nộp và giúp Tòa án áp dụng đúng phương pháp kiểm tra, đánh giá tính khách quan, liên quan và hợp pháp của từng loại chứng cứ theo quy định tại Điều 95 BLTTDS 2015.

5. Giá trị pháp lý của chứng cứ

Giá trị pháp lý của chứng cứ được xác lập trên nguyên tắc chứng cứ phải do đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định hoặc do Tòa án thu thập theo quy định của Bộ luật này. Theo Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật, được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.

Giá trị pháp lý của chứng cứ chỉ được thừa nhận khi chứng cứ đó có nguồn gốc hợp pháp theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Chứng cứ được thu thập từ các nguồn như tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử; vật chứng; lời khai của đương sự; lời khai của người làm chứng; kết luận giám định; biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản; văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập; văn bản công chứng, chứng thực và các nguồn khác mà pháp luật có quy định. Chứng cứ không có nguồn gốc hợp pháp sẽ không được Tòa án sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ việc.

Việc xác định chứng cứ được thực hiện theo Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận. Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó. Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. Ví dụ, trong tranh chấp hợp đồng vay tài sản, giấy vay tiền có chữ ký của bên vay là bản chính sẽ có giá trị chứng minh nghĩa vụ trả nợ, trong khi bản phô tô không được công chứng, chứng thực sẽ không đủ điều kiện được coi là chứng cứ hợp pháp.

Như vậy, giá trị pháp lý của chứng cứ phụ thuộc vào ba yếu tố: tính có thật, nguồn gốc hợp pháp và được xác định theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chỉ chứng cứ đáp ứng đầy đủ các điều kiện này mới được Tòa án sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ việc dân sự.

6. Lưu ý về thu thập và bảo quản chứng cứ

Việc thu thập và bảo quản chứng cứ đóng vai trò quyết định đối với kết quả giải quyết vụ việc dân sự, bởi theo Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, chứng cứ là những gì có thật, được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập theo trình tự, thủ tục luật định, được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.

Về nguồn chứng cứ, Điều 94 liệt kê các dạng tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử cùng vật chứng, lời khai của đương sự, người làm chứng, kết luận giám định, biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ, kết quả định giá tài sản, văn bản ghi nhận sự kiện pháp lý do người có chức năng lập, văn bản công chứng, chứng thực. Điều 95 quy định tài liệu được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp; trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận thì giá trị chứng cứ được bảo đảm.

Lưu ý thứ nhất, đương sự phải chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án để chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Chứng cứ phải bảo đảm tính nguyên vẹn, không bị tẩy xóa, cắt ghép, chỉnh sửa làm sai lệch nội dung. Ví dụ, trong tranh chấp hợp đồng vay tài sản, giấy vay tiền bản gốc có chữ ký, điểm chỉ của bên vay là chứng cứ quan trọng; nếu chỉ xuất trình bản phô tô không được công chứng, chứng thực thì giá trị chứng minh rất hạn chế.

Lưu ý thứ hai, đối với dữ liệu điện tử như tin nhắn, thư điện tử, ghi âm, ghi hình, cần bảo quản nguyên trạng trên thiết bị gốc, tránh chuyển đổi định dạng làm phát sinh nghi ngờ về tính toàn vẹn. Khi cần thiết, đương sự có thể yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định hoặc thực hiện việc lập vi bằng tại tổ chức hành nghề thừa phát lại để ghi nhận sự kiện, hành vi có thật, tạo lập nguồn chứng cứ hợp pháp.

Lưu ý thứ ba, vật chứng phải được bảo quản nguyên vẹn, không làm thay đổi hiện trạng, đặc tính; trường hợp vật chứng là tài sản dễ hư hỏng, khó bảo quản, đương sự cần kịp thời đề nghị Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ hoặc trưng cầu giám định trước khi tài sản biến dạng. Việc thu thập chứng cứ phải tuân thủ pháp luật, không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; chứng cứ thu thập trái pháp luật sẽ không được Tòa án sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ án.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (92/2015/QH13) - Điều 93 về chứng cứ
  • Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (92/2015/QH13) - Điều 94 về nguồn chứng cứ
  • Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (92/2015/QH13) - Điều 95 về xác định chứng cứ
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp