Điều 198-202 Luật Doanh nghiệp 2020: Chia, tách, hợp nhất và sáp nhập doanh nghiệp | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 198-202 Luật Doanh nghiệp 2020: Chia, tách, hợp nhất và sáp nhập doanh nghiệp

Doanh nghiệp · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Nội dung các Điều 198-202 Luật Doanh nghiệp 2020
  2. Chia công ty
  3. Tách công ty
  4. Hợp nhất công ty
  5. Sáp nhập công ty
  6. Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp

Điều 198. Chia công ty 1. Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có thể chia các tài sản, quyền và nghĩa vụ, thành viên, cổ đông của công ty hiện có (sau đây gọi là công ty bị chia) để thành lập hai hoặc nhiều công ty mới. 2. Thủ tục chia công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần được quy định như sau: a) Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc Đại hội đồng cổ đông của công ty bị chia thông qua nghị quyết, quyết định chia công ty theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty. Nghị quyết, quyết định chia công ty phải gồm các nội dung chủ yếu sau: tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty bị chia, tên các công ty sẽ thành lập; nguyên tắc, cách thức và thủ tục chia tài sản công ty; phương án sử dụng lao động; cách thức phân chia, thời hạn và thủ tục chuyển đổi phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty bị chia sang các công ty mới thành lập; nguyên tắc giải quyết nghĩa vụ của công ty bị chia; thời hạn thực hiện chia công ty. Nghị quyết, quyết định chia công ty phải được gửi đến tất cả chủ nợ và thông báo cho người lao động biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định hoặc thông qua nghị quyết; b) Thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc cổ đông của công ty mới được thành lập thông qua Điều lệ, bầu hoặc bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và tiến hành đăng ký doanh nghiệp theo quy định của Luật này. Trong trường hợp này, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đối với công ty mới phải kèm theo nghị quyết, quyế

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Nội dung các Điều 198-202 Luật Doanh nghiệp 2020

Điều 198 – Chia công ty: Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể được chia thành hai hoặc nhiều công ty mới. Theo khoản 2 Điều 198 Luật Doanh nghiệp 2020, công ty bị chia chấm dứt tồn tại sau khi các công ty mới được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; các công ty mới phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị chia, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với chủ nợ, khách hàng hoặc người lao động. Ví dụ: Công ty TNHH A tách thành Công ty TNHH B và Công ty TNHH C; nếu A còn nợ ngân hàng 3 tỷ đồng chưa thanh toán, B và C cùng liên đới chịu trách nhiệm trả khoản nợ này, trừ khi có thỏa thuận khác với ngân hàng.

Điều 200 – Hợp nhất công ty: Hai hoặc một số công ty có thể hợp nhất thành một công ty mới. Theo khoản 2 Điều 200, sau khi hợp nhất, các công ty bị hợp nhất chấm dứt tồn tại; công ty hợp nhất được hưởng toàn bộ quyền, lợi ích hợp pháp và chịu trách nhiệm về toàn bộ nghĩa vụ, các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của các công ty bị hợp nhất. Ví dụ: Công ty X và Công ty Y hợp nhất thành Công ty Z; Z kế thừa toàn bộ tài sản, quyền và nghĩa vụ của X và Y, kể cả các khoản nợ chưa thanh toán.

Điều 201 – Sáp nhập công ty: Một hoặc một số công ty có thể sáp nhập vào một công ty khác. Theo khoản 2 Điều 201, sau khi sáp nhập, công ty bị sáp nhập chấm dứt tồn tại; công ty nhận sáp nhập được hưởng toàn bộ quyền, lợi ích hợp pháp và chịu trách nhiệm về toàn bộ nghĩa vụ, các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị sáp nhập. Ví dụ: Công ty M sáp nhập vào Công ty N; M chấm dứt tồn tại, N tiếp nhận toàn bộ tài sản và nghĩa vụ của M.

Điều 202 – Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp: Công ty trách nhiệm hữu hạn có thể chuyển đổi thành công ty cổ phần hoặc ngược lại. Theo khoản 2 Điều 202, công ty được chuyển đổi đương nhiên kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ của công ty bị chuyển đổi; công ty bị chuyển đổi chấm dứt tồn tại kể từ thời điểm công ty được chuyển đổi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Ví dụ: Công ty TNHH P chuyển đổi thành Công ty cổ phần Q; Q kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ của P, P chấm dứt tồn tại.

2. Chia công ty

Chia công ty là hình thức tổ chức lại doanh nghiệp, theo đó công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần được chia thành hai hoặc nhiều công ty mới. Căn cứ pháp lý trực tiếp điều chỉnh hoạt động này là Điều 198 Luật Doanh nghiệp 2020.

Theo khoản 1 Điều 198, công ty bị chia chấm dứt tồn tại sau khi các công ty mới được thành lập. Các công ty mới phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị chia, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với chủ nợ, khách hàng hoặc người lao động. Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba, tránh tình trạng doanh nghiệp lợi dụng việc chia tách để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.

Về thủ tục, khoản 3 Điều 198 yêu cầu Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc Đại hội đồng cổ đông của công ty bị chia thông qua nghị quyết chia công ty. Nghị quyết phải bao gồm các nội dung chủ yếu: tên, địa chỉ trụ sở của công ty bị chia; tên các công ty sẽ thành lập; nguyên tắc và cách thức chia tài sản; phương án sử dụng lao động; cách thức phân chia vốn, cổ phần, trái phiếu; thời hạn và thủ tục chuyển đổi phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu. Nghị quyết phải được gửi đến tất cả chủ nợ và thông báo cho người lao động trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thông qua.

Ví dụ thực tiễn: Công ty TNHH ABC có ba mảng kinh doanh độc lập là sản xuất, thương mại và dịch vụ. Để tăng hiệu quả quản trị, công ty quyết định chia thành ba công ty TNHH mới tương ứng với từng mảng. Sau khi hoàn tất thủ tục đăng ký doanh nghiệp cho ba công ty mới, Công ty ABC chấm dứt tồn tại. Ba công ty mới cùng liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ phát sinh trước thời điểm chia của Công ty ABC.

Cần phân biệt chia công ty với tách công ty quy định tại Điều 199: khi chia, công ty bị chia chấm dứt tồn tại; khi tách, công ty bị tách vẫn tiếp tục hoạt động. Ngoài ra, các hình thức hợp nhất (Điều 200), sáp nhập (Điều 201) và chuyển đổi loại hình (Điều 202) có bản chất pháp lý khác biệt, không làm phát sinh nhiều pháp nhân mới từ một pháp nhân như chia công ty.

3. Tách công ty

Tách công ty là hình thức tổ chức lại doanh nghiệp, theo đó một công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần tách thành hai hoặc nhiều công ty mới. Căn cứ pháp lý trực tiếp điều chỉnh hoạt động tách công ty là Điều 199 Luật Doanh nghiệp 2020 (không phải Điều 198 như tiêu đề mục nêu, vì Điều 198 quy định về chia công ty). Theo khoản 1 Điều 199, công ty bị tách chấm dứt tồn tại, quyền và nghĩa vụ của công ty bị tách được chuyển giao cho các công ty mới thành lập. Công ty bị tách phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với chủ nợ, người lao động hoặc đối tác.

Về thủ tục, Hội đồng thành viên hoặc Đại hội đồng cổ đông của công ty bị tách thông qua nghị quyết tách công ty theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty. Nghị quyết phải xác định rõ phương án sử dụng lao động, cách thức phân chia tài sản, quyền và nghĩa vụ cho từng công ty mới. Sau khi có nghị quyết, công ty bị tách gửi hồ sơ đăng ký doanh nghiệp đến cơ quan đăng ký kinh doanh để thành lập các công ty mới và chấm dứt tồn tại của công ty bị tách. Các công ty mới phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị tách, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Ví dụ thực tiễn: Công ty TNHH ABC hoạt động trong hai lĩnh vực sản xuất và thương mại. Để chuyên môn hóa quản trị, công ty quyết định tách thành Công ty TNHH ABC Sản xuất và Công ty TNHH ABC Thương mại. Công ty ABC chấm dứt tồn tại; toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ liên quan đến mảng sản xuất chuyển sang công ty sản xuất, mảng thương mại chuyển sang công ty thương mại. Nếu công ty ABC còn nợ ngân hàng, hai công ty mới cùng liên đới chịu trách nhiệm trả nợ, trừ khi có thỏa thuận khác với ngân hàng.

Lưu ý: Tách công ty khác với chia công ty (Điều 198) ở chỗ chia công ty thì công ty bị chia chấm dứt tồn tại và tài sản được chia cho các công ty mới, còn tách công ty cũng chấm dứt tồn tại nhưng bản chất là phân chia theo lĩnh vực hoặc nhóm tài sản để hình thành các pháp nhân độc lập. Việc tách công ty không áp dụng đối với doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh.

4. Hợp nhất công ty

Hợp nhất công ty là hình thức tổ chức lại doanh nghiệp, theo đó hai hoặc một số công ty cùng loại (gọi là công ty bị hợp nhất) hợp nhất thành một công ty mới (gọi là công ty hợp nhất), đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất. Căn cứ pháp lý trực tiếp điều chỉnh là Điều 200 Luật Doanh nghiệp 2020 (59/2020/QH14).

Theo khoản 1 Điều 200, hai hoặc một số công ty có thể hợp nhất thành một công ty mới, sau khi hợp nhất, các công ty bị hợp nhất chấm dứt tồn tại. Công ty hợp nhất được hưởng toàn bộ quyền, lợi ích hợp pháp và chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và các nghĩa vụ tài sản khác của các công ty bị hợp nhất. Đây là nguyên tắc kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ, bảo đảm quyền lợi của chủ nợ và người lao động không bị gián đoạn.

Về thủ tục, khoản 2 Điều 200 quy định các công ty bị hợp nhất phải chuẩn bị hợp đồng hợp nhất, dự thảo điều lệ công ty hợp nhất; hợp đồng hợp nhất phải có chữ ký của người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền của các công ty bị hợp nhất. Hợp đồng hợp nhất phải được các thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc các cổ đông thông qua theo quy định của Luật Doanh nghiệp và điều lệ công ty. Sau khi hợp đồng hợp nhất được thông qua, các công ty bị hợp nhất phải gửi hợp đồng hợp nhất đến các chủ nợ và thông báo cho người lao động trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thông qua.

Ví dụ thực tiễn: Công ty TNHH A và Công ty TNHH B cùng hoạt động trong lĩnh vực phân phối thực phẩm quyết định hợp nhất thành Công ty TNHH C. Theo Điều 200, A và B ký hợp đồng hợp nhất, được hội đồng thành viên mỗi bên thông qua, thông báo cho chủ nợ và người lao động. Sau khi C đăng ký doanh nghiệp, A và B chấm dứt tồn tại; C kế thừa toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và hợp đồng lao động của A và B.

Khác với sáp nhập công ty tại Điều 201 (công ty bị sáp nhập chấm dứt, công ty nhận sáp nhập vẫn tồn tại), hợp nhất tạo ra pháp nhân hoàn toàn mới. Trường hợp hợp nhất mà kết quả làm thay đổi loại hình doanh nghiệp, cần lưu ý thêm quy định tại Điều 202 về chuyển đổi loại hình doanh nghiệp để bảo đảm tuân thủ đầy đủ trình tự pháp lý.

5. Sáp nhập công ty

Sáp nhập công ty là hình thức tổ chức lại doanh nghiệp, theo đó một hoặc một số công ty (gọi là công ty bị sáp nhập) được sáp nhập vào một công ty khác (gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.

Căn cứ Điều 201 Luật Doanh nghiệp 2020, trình tự sáp nhập công ty được thực hiện như sau: các công ty liên quan chuẩn bị hợp đồng sáp nhập và dự thảo Điều lệ công ty nhận sáp nhập. Hợp đồng sáp nhập phải bao gồm các nội dung chủ yếu như tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty nhận sáp nhập; tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty bị sáp nhập; thủ tục và điều kiện sáp nhập; phương án sử dụng lao động; cách thức, thủ tục, thời hạn và điều kiện chuyển đổi tài sản, chuyển đổi phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty bị sáp nhập thành phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty nhận sáp nhập; và thời hạn thực hiện sáp nhập.

Hợp đồng sáp nhập phải được các thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc các cổ đông của các công ty liên quan thông qua theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty. Sau khi hợp đồng sáp nhập được thông qua, các công ty liên quan phải gửi hợp đồng sáp nhập đến các chủ nợ và thông báo cho người lao động trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thông qua. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hợp đồng sáp nhập, chủ nợ có quyền yêu cầu công ty bị sáp nhập hoặc công ty nhận sáp nhập thanh toán nợ hoặc đưa ra biện pháp bảo đảm.

Sau khi đăng ký doanh nghiệp, công ty bị sáp nhập chấm dứt tồn tại; công ty nhận sáp nhập được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị sáp nhập. Đây là điểm khác biệt cơ bản so với hợp nhất công ty theo Điều 200 — khi hợp nhất, các công ty bị hợp nhất chấm dứt tồn tại và hình thành một công ty hoàn toàn mới; còn khi sáp nhập, chỉ công ty bị sáp nhập chấm dứt, công ty nhận sáp nhập vẫn tiếp tục tồn tại và kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ.

Ví dụ thực tiễn: Công ty TNHH A (công ty bị sáp nhập) có hoạt động kinh doanh trùng lĩnh vực với Công ty Cổ phần B (công ty nhận sáp nhập). Để tinh gọn bộ máy và mở rộng quy mô, hai bên ký hợp đồng sáp nhập, theo đó toàn bộ tài sản, nhân sự, hợp đồng với khách hàng của A được chuyển sang B. Sau khi hoàn tất đăng ký thay đổi tại Phòng Đăng ký kinh doanh, A chấm dứt tồn tại; B kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ của A, bao gồm cả các khoản nợ và hợp đồng lao động còn hiệu lực.

Lưu ý, trường hợp sáp nhập dẫn đến công ty nhận sáp nhập thuộc diện phải thực hiện thủ tục cạnh tranh theo quy định của pháp luật cạnh tranh, doanh nghiệp cần tuân thủ thêm các quy định tương ứng. Ngoài ra, việc sáp nhập có thể kéo theo thay đổi loại hình doanh nghiệp của công ty nhận sáp nhập, khi đó áp dụng thêm quy định về chuyển đổi loại hình doanh nghiệp tại Điều 202 Luật Doanh nghiệp 2020.

6. Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp

Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp là việc doanh nghiệp thay đổi hình thức pháp lý từ loại hình này sang loại hình khác mà không làm chấm dứt tư cách pháp nhân của doanh nghiệp. Khác với chia, tách, hợp nhất hay sáp nhập – vốn làm thay đổi số lượng chủ thể kinh doanh – chuyển đổi loại hình chỉ làm thay đổi cơ cấu tổ chức quản trị và chế độ trách nhiệm tài sản của chính doanh nghiệp đó.

Theo quy định tại Điều 202 Luật Doanh nghiệp 2020, công ty trách nhiệm hữu hạn có thể chuyển đổi thành công ty cổ phần hoặc ngược lại; doanh nghiệp tư nhân có thể chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần hoặc công ty hợp danh. Việc chuyển đổi phải được thực hiện theo trình tự đăng ký với Cơ quan đăng ký kinh doanh, đồng thời kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trước khi chuyển đổi.

Về bản chất pháp lý, chuyển đổi loại hình có mối liên hệ mật thiết với các hình thức tổ chức lại khác. Chẳng hạn, khi công ty trách nhiệm hữu hạn chuyển đổi thành công ty cổ phần, các thành viên góp vốn trở thành cổ đông sáng lập, phần vốn góp được chuyển hóa thành cổ phần. Ngược lại, trường hợp công ty cổ phần chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn, cổ đông trở thành thành viên góp vốn tương ứng với tỷ lệ sở hữu cổ phần trước đó. Điểm khác biệt căn bản so với Điều 198 (chia công ty), Điều 200 (hợp nhất công ty) và Điều 201 (sáp nhập công ty) là ở chỗ: chia, hợp nhất, sáp nhập làm phát sinh hoặc chấm dứt tư cách pháp nhân của ít nhất một doanh nghiệp, trong khi chuyển đổi loại hình giữ nguyên một chủ thể pháp lý duy nhất.

Ví dụ thực tiễn: một doanh nghiệp tư nhân kinh doanh vận tải muốn huy động thêm vốn từ nhiều nhà đầu tư nhưng không muốn giải thể rồi thành lập mới. Chủ doanh nghiệp có thể làm thủ tục chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mới, công ty tiếp nhận toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và các hợp đồng lao động của doanh nghiệp tư nhân trước đó, bảo đảm hoạt động kinh doanh không bị gián đoạn.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Luật Doanh nghiệp 2020 (59/2020/QH14) - Điều 198 về chia công ty
  • Luật Doanh nghiệp 2020 (59/2020/QH14) - Điều 200 về hợp nhất công ty
  • Luật Doanh nghiệp 2020 (59/2020/QH14) - Điều 201 về sáp nhập công ty
  • Luật Doanh nghiệp 2020 (59/2020/QH14) - Điều 202 về chuyển đổi loại hình
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp