Điều 84. Tiếp tục cung ứng dịch vụ sau khi hết thời hạn hoàn thành việc cung ứng dịch vụ Sau khi hết thời hạn hoàn thành việc cung ứng dịch vụ mà dịch vụ vẫn chưa hoàn thành, nếu khách hàng không phản đối thì bên cung ứng dịch vụ phải tiếp tục cung ứng theo nội dung đã thoả thuận và phải bồi thường thiệt hại, nếu có.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh. Theo Điều 84 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH 2026, bí mật kinh doanh được bảo hộ khi đáp ứng đủ ba điều kiện: (i) không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được; (ii) khi sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo lợi thế cho người nắm giữ so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng; (iii) được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận.
Khác với sáng chế hay nhãn hiệu, bí mật kinh doanh không cần đăng ký tại cơ quan nhà nước. Quyền được xác lập trên cơ sở nắm giữ hợp pháp và duy trì tính bảo mật. Ví dụ thực tiễn: công thức pha chế nước giải khát, danh sách khách hàng, thuật toán định giá, quy trình sản xuất đặc thù. Nếu doanh nghiệp không áp dụng biện pháp bảo mật hợp lý (như ký thỏa thuận bảo mật, phân quyền truy cập, khóa mã nguồn) thì thông tin đó không còn được coi là bí mật kinh doanh.
Pháp luật bảo vệ bí mật kinh doanh thông qua quy định về hành vi xâm phạm tại Điều 127 (tiếp cận, thu thập, bộc lộ, sử dụng trái phép) và nghĩa vụ bảo hộ dữ liệu thử nghiệm tại Điều 128 của Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất. Như vậy, bí mật kinh doanh là tài sản trí tuệ có giá trị cạnh tranh, được bảo hộ vô thời hạn chừng nào còn đáp ứng đủ ba điều kiện nêu trên.
Theo quy định tại Điều 84 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH 2026, bí mật kinh doanh được bảo hộ khi đáp ứng đủ ba điều kiện: (i) không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được; (ii) khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo lợi thế cho người nắm giữ so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng; (iii) được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để không bị bộc lộ và không dễ tiếp cận.
Điều kiện thứ nhất đòi hỏi thông tin phải có tính bí mật tương đối, tức không thuộc tri thức phổ thông trong lĩnh vực liên quan và không thể thu thập dễ dàng từ các nguồn công khai. Ví dụ, công thức pha chế nước chấm đặc trưng của một doanh nghiệp, quy trình xử lý nhiệt riêng trong sản xuất linh kiện, hay danh sách khách hàng được chọn lọc qua nhiều năm đều có thể thỏa mãn điều kiện này nếu không bị lộ ra ngoài.
Điều kiện thứ hai gắn với giá trị thương mại: thông tin phải mang lại lợi thế cạnh tranh thực tế hoặc tiềm năng. Lợi thế này có thể là tăng doanh thu, giảm chi phí, rút ngắn thời gian nghiên cứu hoặc tạo khác biệt sản phẩm. Thông tin chỉ có giá trị nội bộ thuần túy mà không ảnh hưởng đến vị thế cạnh tranh thì không đủ điều kiện bảo hộ.
Điều kiện thứ ba yêu cầu chủ sở hữu phải chủ động áp dụng biện pháp bảo mật hợp lý như ký thỏa thuận không tiết lộ (NDA), phân quyền truy cập, mã hóa dữ liệu, khóa tủ hồ sơ, ban hành quy chế bảo mật nội bộ. Nếu doanh nghiệp để lộ thông tin do thiếu biện pháp bảo vệ, quyền bảo hộ sẽ không được thừa nhận.
Việc xác định hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh được quy định tại Điều 127, bao gồm tiếp cận, thu thập, sử dụng, tiết lộ trái phép. Riêng dữ liệu thử nghiệm dược phẩm, nông hóa phẩm được bảo hộ theo cơ chế đặc thù tại Điều 128, theo đó cơ quan có thẩm quyền có nghĩa vụ giữ bí mật và không được sử dụng dữ liệu này cho mục đích thương mại không lành mạnh.
Theo quy định tại Điều 127 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH 2026, các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh:
Điều kiện tiên quyết để một thông tin được bảo hộ là thông tin đó phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chí quy định tại Điều 84: không phải là hiểu biết thông thường; có khả năng áp dụng trong kinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người nắm giữ lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng; được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được.
Ví dụ thực tiễn: một công ty sản xuất nước giải khát có công thức pha chế độc quyền, được lưu giữ trong két sắt, chỉ một số nhân sự chủ chốt được tiếp cận và ký thỏa thuận bảo mật. Nếu một nhân viên trong số đó bí mật sao chép công thức để bán cho đối thủ cạnh tranh, hành vi này đồng thời cấu thành hành vi tiếp cận trái phép và bộc lộ thông tin không được phép, vi phạm Điều 127. Trường hợp đối thủ chủ động mua chuộc nhân viên để có được công thức, cả hai bên đều bị xử lý về hành vi xâm phạm.
Riêng đối với dữ liệu thử nghiệm, Điều 128 đặt ra nghĩa vụ bảo hộ đặc thù: cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép lưu hành dược phẩm, nông hóa phẩm phải bảo mật dữ liệu thử nghiệm do người nộp đơn cung cấp, đồng thời không được sử dụng dữ liệu đó vì mục đích thương mại không lành mạnh hoặc để cấp phép cho bên thứ ba, trừ trường hợp cần thiết để bảo vệ công chúng.
Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, dữ liệu thử nghiệm là tập hợp các kết quả nghiên cứu, khảo sát, thử nghiệm lâm sàng hoặc phi lâm sàng mà chủ thể nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phục vụ thủ tục xin cấp phép lưu hành dược phẩm, nông hóa phẩm. Đây là loại tài sản trí tuệ có giá trị thương mại lớn, đòi hỏi chi phí đầu tư cao nhưng dễ bị sao chép, khai thác trái phép nếu không được bảo hộ thỏa đáng.
Theo quy định tại Điều 128 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH 2026, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép lưu hành sản phẩm có nghĩa vụ bảo mật dữ liệu thử nghiệm do chủ thể nộp. Cụ thể, khi tiếp nhận dữ liệu thử nghiệm phục vụ thủ tục xin cấp phép, cơ quan này không được sử dụng dữ liệu đó vào mục đích thương mại, không được tiết lộ cho bên thứ ba, trừ trường hợp việc tiết lộ là cần thiết để bảo vệ công chúng hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật.
Nghĩa vụ bảo mật này có mối liên hệ chặt chẽ với điều kiện bảo hộ bí mật kinh doanh quy định tại Điều 84 của Luật này. Dữ liệu thử nghiệm chỉ được bảo hộ khi chủ sở hữu đã áp dụng các biện pháp cần thiết để giữ bí mật, đồng thời không thuộc danh mục bí mật nhà nước. Nếu cơ quan có thẩm quyền làm lộ dữ liệu thử nghiệm, chủ thể có quyền yêu cầu xử lý theo Điều 127 về hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh, bao gồm các biện pháp dân sự, hành chính hoặc hình sự tùy theo mức độ vi phạm.
Ví dụ thực tiễn: một doanh nghiệp dược nộp hồ sơ đăng ký lưu hành thuốc mới kèm dữ liệu thử nghiệm lâm sàng kéo dài nhiều năm. Nếu cơ quan cấp phép tiết lộ dữ liệu này cho doanh nghiệp cạnh tranh để họ nộp hồ sơ tương tự, hành vi đó cấu thành xâm phạm bí mật kinh doanh. Doanh nghiệp bị thiệt hại có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường, buộc chấm dứt hành vi vi phạm và xử lý trách nhiệm của cá nhân, tổ chức liên quan.
Khi quyền đối với bí mật kinh doanh bị xâm phạm, chủ sở hữu có thể áp dụng đồng thời hoặc lựa chọn các biện pháp dân sự, hành chính và hình sự tùy theo tính chất, mức độ của hành vi. Việc xác định hành vi xâm phạm phải đối chiếu với quy định tại Điều 127 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất, theo đó các hành vi tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp; tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép; vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật đều bị coi là xâm phạm.
Về biện pháp dân sự, chủ sở hữu bí mật kinh doanh có quyền yêu cầu Tòa án buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại và tiêu hủy hoặc buộc chuyển giao các tang vật, phương tiện được tạo ra do hành vi xâm phạm. Ví dụ thực tiễn: một công ty dược phát hiện nhân viên cũ sao chép công thức bào chế và chuyển giao cho đối thủ cạnh tranh, công ty có thể khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại thực tế và buộc đối thủ ngừng sử dụng công thức đó.
Về biện pháp hành chính, hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định về xử phạt trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, với các hình thức phạt tiền và buộc loại bỏ yếu tố vi phạm. Về biện pháp hình sự, nếu hành vi xâm phạm gây thiệt hại nghiêm trọng, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm bí mật kinh doanh theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, Điều 128 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất đặt ra nghĩa vụ bảo hộ dữ liệu thử nghiệm, theo đó cơ quan có thẩm quyền không được sử dụng dữ liệu thử nghiệm đã được bảo hộ để cấp phép cho bên thứ ba khi chưa được sự đồng ý của người nộp dữ liệu. Việc vi phạm nghĩa vụ này cũng là căn cứ để chủ sở hữu dữ liệu yêu cầu xử lý theo quy định pháp luật.
Việc xây dựng chương trình bảo vệ bí mật kinh doanh xuất phát từ yêu cầu của Điều 84 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH 2026: bí mật kinh doanh chỉ được bảo hộ khi chủ sở hữu đã áp dụng các biện pháp cần thiết để giữ bí mật thông tin. Do đó, nếu doanh nghiệp không chủ động xây dựng cơ chế bảo vệ nội bộ, quyền sở hữu trí tuệ đối với bí mật kinh doanh sẽ không phát sinh, kéo theo việc không thể yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm theo Điều 127 của Luật này.
Chương trình bảo vệ cần được thiết kế theo ba trụ cột: nhận diện tài sản, kiểm soát truy cập và ràng buộc pháp lý. Trước hết, doanh nghiệp phải lập danh mục bí mật kinh doanh, phân loại theo mức độ nhạy cảm và xác định phạm vi người được tiếp cận. Ví dụ, một công ty sản xuất nước giải khát có thể đưa công thức pha chế vào nhóm bí mật tuyệt mật, chỉ giới hạn cho một số nhân sự chủ chốt. Tiếp theo, doanh nghiệp áp dụng biện pháp kỹ thuật như mã hóa dữ liệu, phân quyền truy cập hệ thống, khóa lưu trữ hồ sơ giấy và biện pháp quản lý như quy trình ra vào khu vực hạn chế, nhật ký theo dõi truy cập. Cuối cùng, doanh nghiệp ký kết thỏa thuận bảo mật với người lao động, đối tác, nhà cung cấp, trong đó quy định rõ nghĩa vụ giữ bí mật trong và sau khi chấm dứt quan hệ lao động hoặc hợp đồng.
Trong lĩnh vực dược phẩm, chương trình bảo vệ còn gắn với nghĩa vụ bảo hộ dữ liệu thử nghiệm theo Điều 128. Doanh nghiệp nộp hồ sơ đăng ký lưu hành thuốc cần lưu trữ dữ liệu thử nghiệm lâm sàng trong hệ thống riêng biệt, hạn chế chia sẻ nội bộ và lưu lại bằng chứng về thời điểm, phạm vi công bố để phục vụ việc chứng minh khi có tranh chấp. Chương trình bảo vệ hiệu quả không chỉ đáp ứng điều kiện bảo hộ mà còn tạo cơ sở chứng cứ vững chắc khi doanh nghiệp khởi kiện hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.