Điều 612. Di sản Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Tiền gửi ngân hàng của người chết để lại là di sản thừa kế. Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Tiền gửi ngân hàng — bao gồm tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các khoản tiền khác gửi tại tổ chức tín dụng — là quyền tài sản của người gửi tiền, phát sinh từ hợp đồng gửi tiền giữa người gửi và ngân hàng. Khi người gửi tiền chết, quyền yêu cầu ngân hàng hoàn trả tiền gốc và lãi chuyển thành di sản thừa kế.
Ví dụ thực tiễn: Ông A gửi 2 tỷ đồng tiết kiệm tại ngân hàng, đứng tên cá nhân ông. Khi ông A chết, số tiền gốc và lãi phát sinh là di sản của ông A. Những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc của ông A có quyền yêu cầu ngân hàng chi trả sau khi hoàn tất thủ tục khai nhận di sản thừa kế. Trường hợp ông A gửi tiền chung với vợ, chỉ phần của ông A trong khối tài sản chung đó mới là di sản.
Cần lưu ý, theo Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản được hưởng. Nếu ông A còn nợ ngân hàng hoặc bên thứ ba, khoản nợ đó được thanh toán từ di sản trước khi chia thừa kế. Việc phân chia tiền gửi ngân hàng giữa những người thừa kế thực hiện theo thứ tự ưu tiên tại Điều 649 đến Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015: nếu có di chúc hợp pháp thì chia theo di chúc; nếu không có di chúc thì chia theo hàng thừa kế theo pháp luật.
Khi khách hàng có tiền gửi tại ngân hàng qua đời, số dư tiền gửi, sổ tiết kiệm, chứng khoán do ngân hàng quản lý là di sản thừa kế theo quy định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015. Ngân hàng chỉ được chi trả cho người có quyền thừa kế hợp pháp, không đương nhiên chi trả cho bất kỳ ai xuất trình giấy tờ của người đã mất.
Người nhận tiền gửi được xác định theo thứ tự ưu tiên sau:
Trước khi chi trả, ngân hàng có quyền yêu cầu người nhận cung cấp giấy chứng tử, văn bản khai nhận di sản thừa kế hoặc văn bản phân chia di sản, giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế. Đồng thời, theo Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015, người hưởng thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản được hưởng. Do đó, nếu khách hàng còn dư nợ tại chính ngân hàng hoặc nghĩa vụ tài sản khác, ngân hàng có thể khấu trừ phần nghĩa vụ tương ứng trước khi chi trả phần còn lại cho người thừa kế.
Ví dụ thực tiễn: ông A có sổ tiết kiệm 1 tỷ đồng tại ngân hàng X và khoản vay 200 triệu đồng chưa trả. Ông A mất không để lại di chúc. Ngân hàng X sẽ yêu cầu các đồng thừa kế thuộc hàng thứ nhất (vợ và các con) thực hiện thủ tục khai nhận di sản, khấu trừ 200 triệu đồng dư nợ, sau đó chi trả 800 triệu đồng còn lại cho các đồng thừa kế theo phần bằng nhau hoặc theo thỏa thuận phân chia hợp pháp.
Tiền gửi ngân hàng và sổ tiết kiệm là tài sản của người chết để lại, thuộc di sản thừa kế theo quy định tại Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015. Người thừa kế có quyền yêu cầu tổ chức tín dụng nơi người chết gửi tiền cho phép rút, nhận số tiền gửi, tiền lãi phát sinh theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Trước khi phân chia di sản, những người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản theo Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015. Ví dụ, nếu người chết còn dư nợ vay tại chính ngân hàng nơi gửi tiết kiệm, ngân hàng có quyền đối chiếu, khấu trừ nghĩa vụ trả nợ trước khi chi trả phần còn lại cho người thừa kế.
Thủ tục khai nhận di sản là tiền gửi, sổ tiết kiệm được thực hiện theo một trong hai hình thức. Thứ nhất, nếu những người thừa kế thỏa thuận được việc phân chia, họ lập văn bản khai nhận di sản hoặc văn bản thỏa thuận phân chia di sản, có công chứng hoặc chứng thực theo quy định. Thứ hai, nếu không thỏa thuận được, người thừa kế khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế; bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án là căn cứ để ngân hàng chi trả.
Khi xác định người thừa kế theo pháp luật, áp dụng thứ tự hàng thừa kế quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015: hàng thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Ví dụ, người chết không để lại di chúc, có vợ và hai con còn sống, cha mẹ đã mất; toàn bộ số tiền gửi tiết kiệm sẽ do vợ và hai con thỏa thuận phân chia, mỗi người hưởng một phần bằng nhau nếu không có thỏa thuận khác.
Hồ sơ gửi ngân hàng thường gồm: giấy chứng tử, giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế, văn bản khai nhận di sản đã công chứng hoặc chứng thực, sổ tiết kiệm bản gốc (nếu còn), giấy tờ tùy thân của người nhận. Ngân hàng đối chiếu, xác minh và chi trả theo nội dung văn bản khai nhận hoặc quyết định của Tòa án.
Chứng khoán là tài sản theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015, bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ và các loại chứng khoán khác theo pháp luật về chứng khoán. Khi người sở hữu chứng khoán chết, toàn bộ số chứng khoán thuộc sở hữu hợp pháp của người đó trở thành di sản thừa kế theo Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015.
Về nguyên tắc xử lý, Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản. Đối với chứng khoán, nếu người chết có khoản nợ liên quan đến giao dịch chứng khoán (như nợ giao dịch ký quỹ, phí lưu ký), người thừa kế phải thanh toán từ giá trị chứng khoán trước khi phân chia di sản. Trường hợp người chết không để lại di chúc, việc phân chia chứng khoán thực hiện theo hàng thừa kế quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015: hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
Về thủ tục thực tế, người thừa kế cần thực hiện khai nhận di sản thừa kế tại tổ chức hành nghề công chứng, sau đó liên hệ công ty chứng khoán hoặc Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam để làm thủ tục chuyển quyền sở hữu. Ví dụ: ông A sở hữu 10.000 cổ phiếu của một công ty niêm yết và chết không để lại di chúc. Vợ và hai con của ông A thuộc hàng thừa kế thứ nhất, cùng khai nhận di sản tại văn phòng công chứng, sau đó đề nghị công ty chứng khoán chuyển nhượng số cổ phiếu theo thỏa thuận phân chia hoặc theo phần bằng nhau nếu không có thỏa thuận khác.
Trường hợp chứng khoán là cổ phiếu của công ty đại chúng, người thừa kế cần lưu ý nghĩa vụ công bố thông tin khi sở hữu đạt tỷ lệ theo quy định của Luật Chứng khoán. Nếu có tranh chấp về quyền thừa kế chứng khoán, các bên có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu phân chia di sản theo quy định tại Điều 649 và Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015.
Khi người để lại di sản có khoản vay tại ngân hàng chưa thanh toán, khoản nợ này trở thành một bộ phận của nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Theo Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015, những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Nguyên tắc này có nghĩa người thừa kế chỉ phải trả nợ trong giới hạn giá trị tài sản được hưởng, không phải dùng tài sản riêng của mình để thanh toán phần nợ vượt quá di sản.
Di sản thừa kế theo Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015 bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Như vậy, tài khoản ngân hàng, sổ tiết kiệm, chứng khoán đứng tên người chết đều thuộc di sản và được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ trước khi chia cho người thừa kế. Trường hợp người chết có khoản vay thế chấp bằng chính tài sản trong di sản, ngân hàng có quyền ưu tiên xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo thỏa thuận và quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm.
Ví dụ: Ông A qua đời, để lại sổ tiết kiệm 500 triệu đồng và khoản vay ngân hàng còn dư nợ 300 triệu đồng. Các con ông A là người thừa kế theo pháp luật theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Trước khi chia 500 triệu đồng, các con ông A phải dùng di sản này thanh toán khoản nợ 300 triệu đồng cho ngân hàng; phần còn lại 200 triệu đồng mới được chia thừa kế. Nếu khoản nợ là 700 triệu đồng, các con ông A chỉ phải trả tối đa 500 triệu đồng trong phạm vi di sản, không phải bù thêm 200 triệu đồng từ tài sản riêng, trừ khi họ tự nguyện nhận trả thay.
Trường hợp có nhiều người thừa kế, mỗi người chịu trách nhiệm thanh toán nghĩa vụ tài sản tương ứng với phần di sản mình được hưởng, trừ khi có thỏa thuận khác. Việc xác định đúng phạm vi trách nhiệm trả nợ giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cả người thừa kế và chủ nợ là ngân hàng.
Tranh chấp thường gặp đối với di sản là tài khoản ngân hàng, sổ tiết kiệm, chứng khoán chủ yếu xoay quanh ba vấn đề: xác định phạm vi di sản, nghĩa vụ tài sản gắn liền với di sản và hàng thừa kế theo pháp luật.
Thứ nhất, tranh chấp về phạm vi di sản. Theo Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Đối với tài khoản ngân hàng hoặc sổ tiết kiệm đứng tên chung vợ chồng, chỉ phần thuộc sở hữu của người chết mới là di sản. Thực tiễn xét xử ghi nhận nhiều vụ việc người còn sống tự ý rút toàn bộ tiền trong tài khoản chung, dẫn đến khiếu kiện giữa các đồng thừa kế về việc xác định đâu là phần di sản thực tế.
Thứ hai, tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ tài sản. Khoản 1 Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người hưởng thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Ví dụ, người chết có khoản vay ngân hàng chưa trả, các đồng thừa kế muốn nhận tiền gửi tiết kiệm thì phải thanh toán khoản nợ tương ứng trước hoặc khấu trừ vào phần di sản được hưởng. Tranh chấp phát sinh khi một bên yêu cầu chia toàn bộ tiền gửi nhưng không đồng ý gánh nợ.
Thứ ba, tranh chấp về hàng thừa kế. Điều 649 và Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 xác định thừa kế theo pháp luật áp dụng khi không có di chúc, với ba hàng thừa kế theo thứ tự ưu tiên. Thực tế thường gặp tranh chấp giữa con riêng và con chung, giữa vợ hoặc chồng với cha mẹ người chết về tỷ lệ hưởng tiền gửi, chứng khoán.
Lưu ý thực tế: người thừa kế cần thu thập đầy đủ giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế, xác minh số dư tài khoản tại thời điểm mở thừa kế, và lưu ý thời hiệu khởi kiện tranh chấp di sản là 10 năm đối với bất động sản, 30 năm đối với động sản theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015. Việc thỏa thuận phân chia di sản nên lập thành văn bản có công chứng, chứng thực để hạn chế tranh chấp phát sinh.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.