Điều 68. Đương sự trong vụ việc dân sự 1. Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đương sự trong việc dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. 2. Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm. Cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn. 3. Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm. 4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định về đương sự trong vụ việc dân sự. Theo khoản 1 Điều này, đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đương sự trong việc dân sự là người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Khoản 2 Điều 68 xác định cụ thể tư cách của từng loại đương sự. Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm. Bị đơn là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Ví dụ thực tiễn: Trong tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông A (nguyên đơn) và ông B (bị đơn), nếu thửa đất đang được thế chấp tại ngân hàng C thì ngân hàng C được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vì kết quả giải quyết vụ án ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của ngân hàng đối với tài sản bảo đảm.
Để tham gia tố tụng với tư cách đương sự, chủ thể phải có năng lực pháp luật tố tụng dân sự theo quy định tại Điều 69 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Theo đó, năng lực pháp luật tố tụng dân sự là khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng dân sự do pháp luật quy định; mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có năng lực pháp luật tố tụng dân sự như nhau trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi tham gia tố tụng, đương sự có các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, bao gồm quyền được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ; quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; quyền thỏa thuận, hòa giải; quyền kháng cáo, khiếu nại; đồng thời có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh yêu cầu của mình, chấp hành quyết định của Tòa án và tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự khác.
Việc xác định đúng tư cách đương sự theo Điều 68 có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm quyền và nghĩa vụ tố tụng của mỗi chủ thể được thực hiện đầy đủ, tránh bỏ sót người tham gia tố tụng dẫn đến vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án dân sự. Khái niệm này được ghi nhận tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 (BLTTDS 2015).
Theo khoản 2 Điều 68 BLTTDS 2015, đương sự trong vụ án dân sự bao gồm bốn nhóm chủ thể: nguyên đơn là người khởi kiện hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; bị đơn là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị xâm phạm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người tuy không khởi kiện, không bị kiện nhưng việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ nên họ tự mình đề nghị hoặc được các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa vào tham gia tố tụng; và cơ quan, tổ chức khởi kiện vì lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Để trở thành đương sự, chủ thể phải có năng lực pháp luật tố tụng dân sự theo Điều 69 BLTTDS 2015, tức là khả năng có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng dân sự do pháp luật quy định. Mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức đều có năng lực pháp luật tố tụng dân sự như nhau trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Khi tham gia tố tụng, đương sự có các quyền, nghĩa vụ được quy định tại Điều 70 BLTTDS 2015 như quyền cung cấp chứng cứ, quyền tranh tụng, quyền kháng cáo, nghĩa vụ chấp hành quyết định của Tòa án.
Ví dụ thực tiễn: Ông A cho ông B vay 500 triệu đồng, đến hạn ông B không trả. Ông A khởi kiện ra Tòa án yêu cầu ông B trả nợ. Trong vụ án này, ông A là nguyên đơn, ông B là bị đơn. Nếu bà C là vợ ông B có liên quan đến tài sản chung được dùng để trả nợ, bà C có thể được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Việc xác định đúng tư cách đương sự có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phạm vi quyền, nghĩa vụ tố tụng và hiệu lực của bản án đối với từng chủ thể.
Nguyên đơn là người khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác khi bị xâm phạm, tranh chấp. Theo khoản 2 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khởi kiện theo quy định để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Ví dụ: bà A khởi kiện ông B đòi lại khoản tiền cho vay chưa trả, bà A là nguyên đơn.
Bị đơn là người bị nguyên đơn khởi kiện, bị cáo buộc đã xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Khoản 3 Điều 68 xác định bị đơn là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác khởi kiện theo quy định để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm. Trong ví dụ trên, ông B là bị đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người tuy không khởi kiện, không bị kiện nhưng việc giải quyết vụ án có liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của họ. Khoản 4 Điều 68 quy định họ có thể tự mình đề nghị hoặc được các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Ví dụ: ông C là người bảo lãnh cho khoản vay giữa bà A và ông B; khi bà A khởi kiện ông B, ông C được đưa vào tham gia tố tụng vì trách nhiệm bảo lãnh của ông phụ thuộc vào kết quả giải quyết vụ án.
Ba tư cách đương sự này đều có năng lực pháp luật tố tụng dân sự theo Điều 69 và được hưởng các quyền, chịu các nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, bảo đảm sự bình đẳng trước Tòa án.
Trong việc dân sự, đương sự được xác định theo khoản 2 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, bao gồm người yêu cầu và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Khác với vụ án dân sự có nguyên đơn và bị đơn đối kháng, việc dân sự không có tranh chấp mà chỉ có yêu cầu đề nghị Tòa án công nhận hoặc xác lập một sự kiện pháp lý, do đó chủ thể khởi xướng được gọi là người yêu cầu.
Người yêu cầu là cá nhân, cơ quan, tổ chức nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự theo quy định tại khoản 2 Điều 68. Ví dụ, trong việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích, người có quyền, lợi ích liên quan như vợ, chồng, con của người mất tích nộp đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích để làm cơ sở giải quyết quan hệ tài sản, nhân thân. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự là người tuy không nộp đơn yêu cầu nhưng việc giải quyết việc dân sự có liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của họ, nên họ tự mình tham gia hoặc được Tòa án đưa vào tham gia tố tụng.
Để trở thành đương sự trong việc dân sự, chủ thể phải có năng lực pháp luật tố tụng dân sự theo Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Cá nhân có năng lực pháp luật tố tụng dân sự từ khi sinh ra đến khi chết; cơ quan, tổ chức có năng lực này từ khi được thành lập hợp pháp. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự tham gia tố tụng thông qua người đại diện hợp pháp.
Khi tham gia việc dân sự, đương sự có các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, như quyền được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ; quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng; nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp; nghĩa vụ chấp hành quyết định của Tòa án. Ví dụ, người yêu cầu tuyên bố mất tích phải cung cấp chứng cứ chứng minh người đó đã biệt tích hai năm liền trở lên và đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định pháp luật.
Việc xác định đúng tư cách đương sự trong việc dân sự có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm quyền tham gia tố tụng, quyền kháng cáo, khiếu nại và hiệu lực thi hành quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án.
Năng lực pháp luật tố tụng dân sự là khả năng của cá nhân, cơ quan, tổ chức có các quyền, nghĩa vụ trong tố tụng dân sự do pháp luật quy định. Theo khoản 1 Điều 69 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, năng lực pháp luật tố tụng dân sự của cá nhân, cơ quan, tổ chức được xác định tương ứng với năng lực pháp luật dân sự của chủ thể đó theo quy định của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Điều này thể hiện nguyên tắc thống nhất giữa năng lực pháp luật dân sự về nội dung và năng lực pháp luật tố tụng dân sự về hình thức.
Đối với cá nhân, năng lực pháp luật tố tụng dân sự phát sinh từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết, tương ứng với năng lực pháp luật dân sự của cá nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự. Cá nhân có năng lực pháp luật tố tụng dân sự có thể trở thành đương sự trong vụ việc dân sự với tư cách nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Ví dụ, một người chưa thành niên vẫn có năng lực pháp luật tố tụng dân sự để tham gia tố tụng với tư cách đương sự, nhưng việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của người đó do người đại diện hợp pháp thực hiện theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Đối với cơ quan, tổ chức, năng lực pháp luật tố tụng dân sự phát sinh từ khi cơ quan, tổ chức đó được thành lập hợp pháp và chấm dứt khi cơ quan, tổ chức đó chấm dứt hoạt động, giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản. Cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng dân sự thông qua người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền. Việc xác định đúng năng lực pháp luật tố tụng dân sự của đương sự có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tư cách tham gia tố tụng, phạm vi quyền và nghĩa vụ tố tụng của từng chủ thể, bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự đúng pháp luật.
Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định đương sự có quyền và nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố tụng. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy nhiều đương sự chưa nắm rõ phạm vi quyền, nghĩa vụ của mình, dẫn đến bỏ lỡ thời cơ bảo vệ quyền lợi hợp pháp.
Thứ nhất, về quyền của đương sự. Khoản 5 Điều 70 cho phép đương sự tự mình hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Ví dụ, nguyên đơn trong vụ tranh chấp hợp đồng có thể ủy quyền cho luật sư thay mặt tham gia phiên tòa, nhưng phải lập văn bản ủy quyền hợp lệ. Khoản 6 Điều 70 quy định quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó. Trên thực tế, đương sự thường gặp khó khăn khi yêu cầu ngân hàng cung cấp sao kê giao dịch của bên đối phương; khi đó cần làm đơn yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ theo khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Thứ hai, về nghĩa vụ của đương sự. Khoản 15 Điều 70 buộc đương sự phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và chấp hành quyết định của Tòa án trong quá trình tố tụng. Nếu bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Điều này đồng nghĩa bị đơn mất cơ hội trình bày ý kiến phản bác.
Thứ ba, về năng lực pháp luật tố tụng dân sự. Điều 69 xác định mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức có năng lực pháp luật tố tụng dân sự như nhau trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Tuy nhiên, người chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự phải thông qua người đại diện theo pháp luật để thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng. Ví dụ, trẻ em 10 tuổi là người thừa kế di sản không thể tự mình khởi kiện mà phải do cha, mẹ hoặc người giám hộ đại diện.
Tóm lại, đương sự cần chủ động thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo Điều 70, đồng thời lưu ý đến năng lực tố tụng quy định tại Điều 69 để tránh hậu quả pháp lý bất lợi.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.