Điều 513. Hợp đồng dịch vụ Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 513 BLDS 2015 định nghĩa hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ. Đối tượng của hợp đồng dịch vụ là công việc có thể thực hiện được, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Ví dụ: hợp đồng tư vấn pháp lý, hợp đồng sửa chữa nhà ở, hợp đồng vận chuyển hành khách.
Điều 514 quy định về giá dịch vụ, theo đó giá dịch vụ do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định; trường hợp không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì xác định theo giá thị trường tại thời điểm, địa điểm giao kết hợp đồng. Điều 515 xác định nghĩa vụ của bên sử dụng dịch vụ gồm: cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết; trả tiền dịch vụ theo thỏa thuận. Điều 516 quy định quyền của bên sử dụng dịch vụ, nổi bật là quyền yêu cầu bên cung ứng dịch vụ thực hiện đúng chất lượng, số lượng, thời hạn và các thỏa thuận khác.
Điều 517 quy định nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ, gồm: thực hiện công việc đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và các thỏa thuận khác; không được giao cho người khác thực hiện thay nếu không có sự đồng ý của bên sử dụng dịch vụ; bảo quản và giao lại tài liệu, phương tiện sau khi hoàn thành công việc; báo ngay cho bên sử dụng dịch vụ khi thông tin, tài liệu không đầy đủ hoặc chất lượng không bảo đảm; giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong thời gian thực hiện công việc. Ví dụ: bên sửa chữa ô tô phải bảo quản xe cẩn thận, không được tự ý giao xe cho xưởng khác sửa mà không hỏi ý kiến chủ xe.
Điều 518 quy định quyền của bên cung ứng dịch vụ, gồm quyền yêu cầu bên sử dụng dịch vụ cung cấp thông tin, tài liệu và trả tiền dịch vụ. Điều 519 quy định về việc trả tiền dịch vụ: bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền khi dịch vụ hoàn thành, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; trường hợp dịch vụ không đạt được như thỏa thuận thì bên sử dụng dịch vụ có quyền giảm tiền dịch vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Quy định này liên hệ chặt chẽ với Điều 520 về đơn phương chấm dứt hợp đồng dịch vụ, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại cho bên kia.
Khái niệm hợp đồng dịch vụ được quy định tại Điều 513 Bộ luật Dân sự 2015: "Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ."
Về bản chất, hợp đồng dịch vụ là loại hợp đồng song vụ, có đền bù và mang tính đối nhân cao. Đối tượng của hợp đồng là công việc phải thực hiện chứ không phải kết quả vật chất cụ thể như trong hợp đồng gia công hay mua bán tài sản. Bên cung ứng dịch vụ cam kết bỏ công sức, trình độ chuyên môn, kỹ năng để thực hiện công việc nhất định; bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ trả tiền dịch vụ theo thỏa thuận.
Nghĩa vụ trung tâm của bên cung ứng dịch vụ được cụ thể hóa tại Điều 517 BLDS 2015: phải thực hiện công việc đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và các thỏa thuận khác; không được giao cho người khác thực hiện thay nếu không có sự đồng ý của bên sử dụng dịch vụ; bảo quản và giao lại tài liệu, phương tiện sau khi hoàn thành công việc; báo ngay khi thông tin, tài liệu không đầy đủ hoặc chất lượng không bảo đảm; giữ bí mật thông tin biết được trong thời gian thực hiện công việc. Quy định này cho thấy tính chất đối nhân của hợp đồng dịch vụ — bên sử dụng dịch vụ tin tưởng vào chính năng lực cá nhân của bên cung ứng.
Ví dụ thực tiễn: A thuê luật sư B tư vấn pháp lý cho giao dịch mua nhà. Đối tượng hợp đồng là công việc tư vấn, không phải căn nhà. B phải đích thân tư vấn, không được tự ý giao cho luật sư khác nếu A không đồng ý. A có nghĩa vụ trả phí tư vấn theo thỏa thuận.
Hợp đồng dịch vụ có thể chấm dứt theo thỏa thuận, theo quy định pháp luật hoặc do một bên đơn phương chấm dứt theo Điều 520 BLDS 2015. Bên sử dụng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt nhưng phải trả tiền dịch vụ theo phần đã thực hiện và bồi thường thiệt hại; bên cung ứng dịch vụ đơn phương chấm dứt phải báo trước một thời gian hợp lý và bồi thường thiệt hại. Đây là điểm khác biệt quan trọng so với hợp đồng mua bán tài sản, phản ánh bản chất tin cậy cá nhân của quan hệ dịch vụ.
Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ được quy định tại Điều 517 Bộ luật Dân sự 2015, bao gồm bốn nhóm nghĩa vụ cơ bản sau:
Thứ nhất, thực hiện công việc đúng thỏa thuận. Bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện công việc đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và các thỏa thuận khác đã cam kết với bên sử dụng dịch vụ. Ví dụ, công ty vệ sinh cam kết làm sạch văn phòng 200m² trong 03 giờ theo tiêu chuẩn đã ký thì phải thực hiện đúng phạm vi, thời gian và chất lượng đó; nếu tự ý rút ngắn thời gian hoặc bỏ sót hạng mục là vi phạm nghĩa vụ.
Thứ hai, nghĩa vụ bảo quản và giao lại tài sản, tài liệu. Trong quá trình thực hiện dịch vụ, nếu bên sử dụng dịch vụ có giao tài sản, tài liệu, phương tiện thì bên cung ứng phải bảo quản cẩn thận và giao lại đầy đủ khi hoàn thành công việc. Ví dụ, đơn vị sửa chữa nhận xe của khách hàng phải trông giữ an toàn, không được sử dụng xe vào việc riêng và phải bàn giao nguyên trạng khi kết thúc.
Thứ ba, nghĩa vụ thông báo. Bên cung ứng dịch vụ phải thông báo kịp thời cho bên sử dụng dịch vụ khi thấy thông tin, tài liệu không đầy đủ, chất lượng công việc không bảo đảm hoặc có yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thành công việc. Đây là nghĩa vụ chủ động nhằm bảo vệ lợi ích của bên sử dụng dịch vụ, tránh thiệt hại phát sinh do im lặng, chậm trễ.
Thứ tư, nghĩa vụ giữ bí mật thông tin. Bên cung ứng dịch vụ không được tiết lộ thông tin mà mình biết được trong quá trình thực hiện công việc, nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Ví dụ, đơn vị tư vấn pháp lý, kế toán tiếp cận hồ sơ tài chính, bí quyết kinh doanh của khách hàng phải bảo mật tuyệt đối; vi phạm có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Việc thực hiện không đúng các nghĩa vụ nêu trên có thể dẫn đến hậu quả pháp lý theo Điều 520 Bộ luật Dân sự 2015: bên sử dụng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Các nghĩa vụ này cũng phải được thực hiện trên nguyên tắc thiện chí, trung thực quy định tại khoản 3 Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015.
Trong hợp đồng dịch vụ, bên cung ứng dịch vụ có các quyền cơ bản phát sinh từ bản chất đối ứng của quan hệ nghĩa vụ. Căn cứ Điều 513 Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, còn bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ. Từ quy định này, quyền đầu tiên và quan trọng nhất của bên cung ứng dịch vụ là quyền yêu cầu bên sử dụng dịch vụ thanh toán tiền dịch vụ theo thỏa thuận. Đây là quyền đối trọng trực tiếp với nghĩa vụ trả tiền của bên sử dụng dịch vụ.
Thứ hai, bên cung ứng dịch vụ có quyền yêu cầu bên sử dụng dịch vụ cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện cần thiết để thực hiện công việc. Quyền này được suy ra từ nghĩa vụ của bên sử dụng dịch vụ quy định tại Điều 517 Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, bên sử dụng dịch vụ phải cung cấp cho bên cung ứng dịch vụ thông tin, tài liệu và các phương tiện cần thiết để thực hiện công việc, nếu có thỏa thuận hoặc việc thực hiện công việc đòi hỏi. Ví dụ, trong hợp đồng tư vấn pháp lý, khách hàng phải cung cấp hồ sơ vụ việc; nếu khách hàng không cung cấp, bên cung ứng dịch vụ có quyền yêu cầu và có thể tạm ngừng thực hiện công việc cho đến khi nhận được tài liệu cần thiết.
Thứ ba, bên cung ứng dịch vụ có quyền thay đổi điều kiện dịch vụ vì lợi ích của bên sử dụng dịch vụ mà không nhất thiết phải chờ ý kiến của bên sử dụng dịch vụ, nếu việc chờ ý kiến sẽ gây thiệt hại cho bên sử dụng dịch vụ, nhưng phải báo ngay cho bên sử dụng dịch vụ. Quy định này thể hiện nguyên tắc thiện chí, trung thực tại Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015, đồng thời bảo vệ quyền tự chủ nghề nghiệp của bên cung ứng dịch vụ trong phạm vi hợp lý.
Thứ tư, trong trường hợp bên sử dụng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ, bên cung ứng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo Điều 520 Bộ luật Dân sự năm 2015. Cụ thể, nếu việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi cho bên sử dụng dịch vụ, bên cung ứng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nhưng phải báo cho bên sử dụng dịch vụ biết trước một thời gian hợp lý. Ví dụ, bên sử dụng dịch vụ liên tục không thanh toán đúng hạn hoặc cung cấp thông tin sai lệch nghiêm trọng, bên cung ứng dịch vụ có thể chấm dứt hợp đồng và yêu cầu thanh toán phần dịch vụ đã thực hiện.
Ngoài ra, bên cung ứng dịch vụ còn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại khi bên sử dụng dịch vụ vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại, theo nguyên tắc trách nhiệm dân sự quy định tại Điều 3 và các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Bộ luật Dân sự năm 2015. Các quyền nêu trên tạo thành cơ chế bảo vệ cân bằng lợi ích cho bên cung ứng dịch vụ, bảo đảm sự ổn định và hiệu quả của giao dịch dịch vụ trong thực tiễn.
Nghĩa vụ của bên sử dụng dịch vụ được quy định tại Điều 515 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, bên sử dụng dịch vụ có các nghĩa vụ cơ bản sau:
Thứ nhất, cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện cần thiết. Bên sử dụng dịch vụ phải cung cấp cho bên cung ứng dịch vụ thông tin, tài liệu và các phương tiện cần thiết để thực hiện công việc, nếu có thỏa thuận hoặc việc thực hiện công việc đòi hỏi. Ví dụ, trong hợp đồng tư vấn pháp lý, khách hàng phải cung cấp hồ sơ vụ việc, giấy tờ pháp lý liên quan để luật sư có đủ căn cứ tư vấn; nếu không cung cấp đầy đủ, bên cung ứng dịch vụ có quyền yêu cầu bổ sung hoặc tạm ngừng thực hiện.
Thứ hai, trả tiền dịch vụ. Bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán tiền dịch vụ theo thỏa thuận. Trường hợp không có thỏa thuận về giá dịch vụ, phương thức thanh toán thì áp dụng quy định tại Điều 519 Bộ luật Dân sự 2015: giá dịch vụ được xác định theo giá thị trường tại thời điểm và địa điểm giao kết hợp đồng; bên sử dụng dịch vụ phải trả đủ tiền dịch vụ khi dịch vụ hoàn thành, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Việc chậm thanh toán có thể dẫn đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo Điều 351 Bộ luật Dân sự 2015.
Thứ ba, phối hợp thực hiện hợp đồng. Bên sử dụng dịch vụ phải phối hợp với bên cung ứng dịch vụ trong quá trình thực hiện công việc, tạo điều kiện thuận lợi để dịch vụ được thực hiện đúng tiến độ, chất lượng. Nghĩa vụ này xuất phát từ nguyên tắc thiện chí, trung thực quy định tại khoản 3 Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015.
Việc vi phạm các nghĩa vụ nêu trên có thể dẫn đến hậu quả pháp lý như bên cung ứng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng theo Điều 520 Bộ luật Dân sự 2015 hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại. Do đó, bên sử dụng dịch vụ cần thực hiện đầy đủ, đúng hạn các nghĩa vụ để bảo đảm quyền lợi của mình và duy trì quan hệ hợp đồng ổn định.
Điều 520 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dịch vụ. Theo đó, trong trường hợp việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi cho bên sử dụng dịch vụ thì bên sử dụng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, nhưng phải báo cho bên cung ứng dịch vụ biết trước một thời gian hợp lý. Bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền công theo phần dịch vụ mà bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện và bồi thường thiệt hại.
Ngược lại, trường hợp bên sử dụng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên cung ứng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Quy định này gắn liền với Điều 517 Bộ luật Dân sự 2015 về nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ, theo đó bên cung ứng phải thực hiện công việc đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và thỏa thuận khác; đồng thời không được giao cho người khác thực hiện thay nếu không có sự đồng ý của bên sử dụng dịch vụ. Khi bên sử dụng dịch vụ không thanh toán tiền công, không phối hợp thực hiện hoặc có hành vi cản trở khiến công việc không thể hoàn thành, bên cung ứng dịch vụ có căn cứ để chấm dứt hợp đồng.
Ví dụ thực tiễn: Công ty A thuê Công ty B thực hiện chiến dịch quảng cáo trong 06 tháng. Sau 02 tháng, Công ty A nhận thấy chiến dịch không còn hiệu quả do thị trường thay đổi. Căn cứ Điều 520, Công ty A có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nhưng phải báo trước cho Công ty B một thời gian hợp lý, thanh toán tiền công cho 02 tháng dịch vụ đã thực hiện và bồi thường thiệt hại nếu có. Ngược lại, nếu Công ty A không thanh toán tiền công trong thời gian dài dù đã được nhắc nhở, Công ty B có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu bồi thường.
Như vậy, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng dịch vụ được pháp luật ghi nhận cho cả hai bên nhưng gắn với điều kiện và hậu quả pháp lý khác nhau. Bên chấm dứt phải tuân thủ nghĩa vụ thông báo trước một thời gian hợp lý, thanh toán phần dịch vụ đã thực hiện và bồi thường thiệt hại phát sinh. Quy định này bảo đảm sự cân bằng lợi ích giữa các bên, phù hợp với nguyên tắc thiện chí, trung thực tại Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015 và bản chất của hợp đồng dịch vụ quy định tại Điều 513 Bộ luật Dân sự 2015.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.