Điều 195. Công ty mẹ, công ty con 1. Một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của công ty đó; b) Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó; c) Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó. 2. Công ty con không được đầu tư mua cổ phần, góp vốn vào công ty mẹ. Các công ty con của cùng một công ty mẹ không được đồng thời cùng góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau. 3. Các công ty con có cùng một công ty mẹ là doanh nghiệp có sở hữu ít nhất 65% vốn nhà nước không được cùng nhau góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác hoặc để thành lập doanh nghiệp mới theo quy định của Luật này. 4. Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 195 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về quan hệ công ty mẹ – công ty con. Theo khoản 1 Điều này, một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp: sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của công ty đó; có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó; có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó. Khoản 2 quy định công ty con không được đầu tư mua cổ phần, góp vốn vào công ty mẹ; các công ty con của cùng một công ty mẹ không được đồng thời cùng góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau. Khoản 3 xác định các công ty con cùng một công ty mẹ và công ty mẹ không đương nhiên tạo thành một pháp nhân thống nhất; mỗi công ty trong nhóm vẫn là chủ thể pháp lý độc lập, có quyền và nghĩa vụ riêng theo quy định pháp luật.
Điều 196 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định quyền và nghĩa vụ của công ty mẹ đối với công ty con. Theo khoản 1, tùy thuộc vào loại hình pháp lý của công ty con, công ty mẹ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình với tư cách là thành viên, chủ sở hữu hoặc cổ đông theo quy định tương ứng của Luật này và pháp luật có liên quan. Khoản 2 quy định trường hợp hợp đồng, giao dịch hoặc quan hệ khác giữa công ty mẹ và công ty con được thực hiện độc lập, bình đẳng theo điều kiện áp dụng đối với các chủ thể pháp lý độc lập. Khoản 3 quy định trường hợp công ty mẹ can thiệp ngoài thẩm quyền của thành viên, chủ sở hữu hoặc cổ đông và ép buộc công ty con thực hiện hoạt động kinh doanh trái với thông lệ kinh doanh bình thường, gây thiệt hại cho công ty con thì công ty mẹ phải chịu trách nhiệm về thiệt hại đó. Khoản 4 quy định người quản lý công ty mẹ chịu trách nhiệm liên đới về thiệt hại nếu can thiệp, ép buộc công ty con thực hiện hoạt động kinh doanh gây thiệt hại cho công ty con. Khoản 5 quy định trường hợp công ty mẹ không đền bù cho công ty con theo quy định tại khoản 3 thì chủ nợ hoặc thành viên, cổ đông có sở hữu ít nhất 01% vốn điều lệ của công ty con có quyền nhân danh chính mình hoặc nhân danh công ty con yêu cầu công ty mẹ đền bù thiệt hại cho công ty con. Khoản 6 quy định trường hợp hoạt động kinh doanh theo khoản 3 đem lại lợi ích cho công ty con khác của cùng một công ty mẹ thì công ty con được hưởng lợi phải liên đới cùng công ty mẹ hoàn trả khoản lợi ích đã nhận cho công ty con bị thiệt hại.
Ví dụ thực tiễn: Công ty A sở hữu 60% vốn điều lệ Công ty B. A là công ty mẹ, B là công ty con theo điểm a khoản 1 Điều 195. Nếu A chỉ đạo B ký hợp đồng mua nguyên vật liệu giá cao hơn thị trường 30% từ một công ty liên kết của A, gây thiệt hại cho B, thì A phải bồi thường thiệt hại cho B theo khoản 3 Điều 196; người quản lý của A trực tiếp chỉ đạo giao dịch này chịu trách nhiệm liên đới theo khoản 4 Điều 196. Quy định này tạo cơ chế bảo vệ công ty con và cổ đông thiểu số trước hành vi lạm quyền của công ty mẹ, đồng thời khẳng định nguyên tắc mỗi công ty trong nhóm là pháp nhân độc lập theo khoản 3 Điều 195.
Trong tổng thể, Điều 195 và Điều 196 cần được đọc cùng Điều 194 Luật Doanh nghiệp 2020 về tập đoàn kinh tế, tổng công ty. Theo Điều 194, tập đoàn kinh tế, tổng công ty thuộc các thành phần kinh tế là nhóm công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác. Như vậy, quan hệ công ty mẹ – công ty con theo Điều 195 là nền tảng pháp lý hình thành nên cấu trúc tập đoàn kinh tế, tổng công ty theo Điều 194, trong đó Điều 196 bảo đảm sự cân bằng quyền lợi giữa công ty mẹ và công ty con trong hoạt động quản trị nhóm công ty.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 195 Luật Doanh nghiệp 2020, một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp sau: sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của công ty đó; có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó; có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó. Công ty con là công ty chịu sự chi phối, kiểm soát của công ty mẹ theo một trong các tiêu chí nêu trên.
Như vậy, mối quan hệ công ty mẹ – công ty con được xác lập dựa trên quyền kiểm soát thực chất, không chỉ đơn thuần dựa trên tỷ lệ sở hữu vốn. Quyền kiểm soát có thể phát sinh trực tiếp từ việc nắm giữ cổ phần, phần vốn góp chi phối, hoặc gián tiếp thông qua một công ty con khác. Ví dụ, công ty A sở hữu 60% vốn điều lệ của công ty B, đồng thời công ty B sở hữu 70% vốn điều lệ của công ty C. Trong trường hợp này, A là công ty mẹ của B, B là công ty mẹ của C, và A cũng được xác định là công ty mẹ gián tiếp của C thông qua quyền kiểm soát của A đối với B.
Khoản 2 Điều 195 quy định rõ: công ty con không được đầu tư mua cổ phần, góp vốn vào công ty mẹ; các công ty con của cùng một công ty mẹ không được đồng thời cùng góp vốn, mua cổ phần để sở hữu chéo lẫn nhau. Quy định này nhằm ngăn ngừa tình trạng sở hữu chéo làm sai lệch cơ cấu vốn và quyền kiểm soát thực tế trong nhóm công ty.
Khái niệm công ty mẹ, công ty con cần được phân biệt với mô hình tập đoàn kinh tế, tổng công ty quy định tại Điều 194 Luật Doanh nghiệp 2020. Tập đoàn kinh tế, tổng công ty là nhóm công ty có quy mô lớn, có mối quan hệ gắn bó lâu dài về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác; trong đó, công ty mẹ, công ty con chỉ là một dạng thức tổ chức bên trong cấu trúc tập đoàn. Việc xác định đúng tư cách công ty mẹ, công ty con có ý nghĩa quan trọng trong quản trị nội bộ, công bố thông tin, báo cáo tài chính hợp nhất và xác định trách nhiệm pháp lý giữa các thực thể trong nhóm công ty.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 195 Luật Doanh nghiệp 2020, một công ty được xác định là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Như vậy, căn cứ xác định quan hệ công ty mẹ – công ty con không chỉ dựa trên tỷ lệ sở hữu vốn mà còn dựa trên quyền chi phối thực tế về mặt tổ chức, quản trị và điều hành. Tiêu chí sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông là căn cứ phổ biến và dễ xác định nhất. Ví dụ, Công ty A nắm giữ 60% vốn điều lệ của Công ty B thì A là công ty mẹ, B là công ty con của A.
Tuy nhiên, pháp luật còn ghi nhận trường hợp công ty mẹ không nắm giữ trên 50% vốn nhưng vẫn có quyền chi phối thông qua thỏa thuận hoặc cơ cấu quản trị. Ví dụ, Công ty C chỉ sở hữu 40% cổ phần phổ thông của Công ty D nhưng theo thỏa thuận giữa các cổ đông, C có quyền bổ nhiệm đa số thành viên Hội đồng quản trị của D. Trong trường hợp này, C vẫn được xác định là công ty mẹ của D theo điểm b khoản 1 Điều 195.
Quyền chi phối có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp. Chi phối gián tiếp xảy ra khi công ty mẹ kiểm soát công ty con thông qua một hoặc nhiều pháp nhân trung gian. Ví dụ, Công ty X sở hữu 70% vốn của Công ty Y, Công ty Y sở hữu 60% vốn của Công ty Z. Khi đó, X là công ty mẹ gián tiếp của Z thông qua Y.
Việc xác định đúng quan hệ công ty mẹ – công ty con có ý nghĩa pháp lý quan trọng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ tương ứng theo Điều 196 Luật Doanh nghiệp 2020, đồng thời là cơ sở để xác định trách nhiệm liên quan trong nhóm công ty theo Điều 194 Luật Doanh nghiệp 2020 về tập đoàn kinh tế, tổng công ty.
Trong mối quan hệ công ty mẹ – công ty con, quyền của công ty mẹ không phát sinh một cách tự nhiên từ tư cách cổ đông, thành viên góp vốn mà được xác lập và giới hạn bởi hợp đồng, điều lệ công ty con và quy định của pháp luật. Khoản 1 Điều 196 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định: tùy thuộc vào loại hình pháp lý của công ty con, công ty mẹ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình với tư cách thành viên, chủ sở hữu hoặc cổ đông trong quan hệ với công ty con theo quy định tương ứng của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Nội hàm quyền của công ty mẹ được xác định theo tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ hoặc cổ phần tại công ty con. Cụ thể, nếu công ty con là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do công ty mẹ sở hữu 100% vốn điều lệ, công ty mẹ có toàn quyền quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của chủ sở hữu theo Điều 76 Luật Doanh nghiệp 2020, bao gồm phê duyệt điều lệ, quyết định chiến lược phát triển, bổ nhiệm, miễn nhiệm người quản lý, quyết định tăng hoặc giảm vốn điều lệ. Trường hợp công ty con là công ty cổ phần mà công ty mẹ nắm giữ trên 50% tổng số phiếu biểu quyết, quyền của công ty mẹ được thực hiện thông qua Đại hội đồng cổ đông, thể hiện ở khả năng chi phối việc thông qua nghị quyết về định hướng phát triển, cơ cấu tổ chức quản lý và phân phối lợi nhuận.
Ví dụ thực tiễn: Tập đoàn X sở hữu 65% vốn điều lệ tại Công ty cổ phần Y. Theo khoản 1 Điều 195, Y là công ty con của X. Trong kỳ họp Đại hội đồng cổ đông thường niên của Y, X sử dụng 65% phiếu biểu quyết để thông qua nghị quyết bầu thành viên Hội đồng quản trị và định hướng đầu tư mở rộng nhà máy. Quyền này của X không đồng nghĩa với việc X được trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của Y, bởi Y vẫn là pháp nhân độc lập, có tài sản và trách nhiệm pháp lý riêng.
Điều 196 cũng đặt ra giới hạn quan trọng: hợp đồng, giao dịch và quan hệ khác giữa công ty mẹ và công ty con đều phải được xác lập và thực hiện độc lập, bình đẳng theo điều kiện áp dụng đối với các chủ thể pháp lý độc lập. Quy định này ngăn ngừa tình trạng công ty mẹ lạm dụng quyền chi phối để chuyển giao tài sản, nghĩa vụ bất lợi cho công ty con, gây thiệt hại cho cổ đông thiểu số và chủ nợ. Trường hợp công ty mẹ can thiệp ngoài thẩm quyền và gây thiệt hại cho công ty con, công ty mẹ phải chịu trách nhiệm bồi thường theo khoản 3 Điều 196.
Trong mối quan hệ công ty mẹ – công ty con, trách nhiệm của công ty mẹ được xác định trên nguyên tắc độc lập về tài sản và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản phát sinh từ hoạt động của chính công ty mẹ. Theo khoản 2 Điều 195 Luật Doanh nghiệp 2020, công ty mẹ và công ty con là hai thực thể pháp lý độc lập; công ty mẹ chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp hoặc cổ phần mà mình sở hữu tại công ty con, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Điều 196 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của công ty mẹ đối với công ty con. Theo đó, công ty mẹ có quyền chi phối công ty con thông qua các cơ chế như quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm người quản lý; quyết định sửa đổi, bổ sung điều lệ; quyết định phương hướng hoạt động và các vấn đề quan trọng khác tùy theo mức độ sở hữu vốn. Tuy nhiên, quyền chi phối này không đồng nghĩa với việc công ty mẹ được can thiệp vượt quá thẩm quyền của chủ sở hữu, thành viên hoặc cổ đông theo quy định pháp luật. Trường hợp công ty mẹ can thiệp ngoài thẩm quyền, buộc công ty con thực hiện hoạt động kinh doanh trái với thông lệ kinh doanh bình thường và gây thiệt hại cho công ty con thì công ty mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại đó.
Ví dụ thực tiễn: Công ty cổ phần A sở hữu 80% vốn điều lệ tại Công ty TNHH B. Khi B vay vốn ngân hàng và mất khả năng thanh toán, A chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn đã góp vào B, không phải dùng toàn bộ tài sản của mình để trả nợ thay B. Ngược lại, nếu A chỉ đạo B ký hợp đồng mua nguyên vật liệu giá cao bất thường từ một công ty liên quan của A, gây thua lỗ cho B, thì A phải liên đới bồi thường phần thiệt hại phát sinh từ hành vi can thiệp trái thẩm quyền đó.
Trong mô hình tập đoàn kinh tế, tổng công ty theo Điều 194 Luật Doanh nghiệp 2020, trách nhiệm của công ty mẹ còn gắn với nghĩa vụ bảo đảm sự phối hợp hoạt động giữa các công ty thành viên, nhưng không làm thay đổi nguyên tắc độc lập về trách nhiệm pháp lý của từng pháp nhân thành viên.
Khoản 2 Điều 195 Luật Doanh nghiệp 2020 xác định công ty mẹ là công ty sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của công ty khác, hoặc có quyền trực tiếp hay gián tiếp bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty con, hoặc có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty con. Khi quan hệ công ty mẹ – công ty con được xác lập, nghĩa vụ lập báo cáo tài chính hợp nhất phát sinh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 196: công ty mẹ có nghĩĩa vụ “lập báo cáo tài chính hợp nhất theo quy định của pháp luật về kế toán”. Đây là nghĩa vụ pháp lý trực tiếp của công ty mẹ, không phải nghĩa vụ của công ty con.
Phạm vi hợp nhất không chỉ giới hạn ở công ty con trực tiếp mà bao gồm toàn bộ công ty con mà công ty mẹ kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp. Ví dụ: Công ty A sở hữu 60% vốn điều lệ Công ty B, đồng thời Công ty B sở hữu 70% vốn điều lệ Công ty C. Trong trường hợp này, A là công ty mẹ của B, B là công ty mẹ của C, và A kiểm soát gián tiếp C thông qua B. Báo cáo tài chính hợp nhất của A phải bao gồm số liệu của cả B và C, sau khi loại trừ các giao dịch nội bộ, khoản đầu tư của công ty mẹ vào công ty con và phần lợi ích của cổ đông không kiểm soát.
Lưu ý thứ hai liên quan đến mốc thời gian hợp nhất. Công ty mẹ phải hợp nhất báo cáo tài chính của công ty con kể từ ngày công ty mẹ thực sự nắm quyền kiểm soát công ty con, không phải từ ngày hoàn tất thủ tục đăng ký thay đổi tỷ lệ sở hữu. Ngược lại, khi công ty mẹ mất quyền kiểm soát đối với công ty con, việc hợp nhất chấm dứt kể từ thời điểm mất quyền kiểm soát.
Lưu ý thứ ba về mối quan hệ với tập đoàn kinh tế. Điều 194 quy định tập đoàn kinh tế là nhóm công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và dịch vụ kinh doanh khác. Tuy nhiên, nghĩa vụ lập báo cáo tài chính hợp nhất phát sinh từ quan hệ công ty mẹ – công ty con theo Điều 195, không phụ thuộc vào việc nhóm công ty có được tổ chức thành tập đoàn kinh tế hay không. Một công ty mẹ có thể không thuộc bất kỳ tập đoàn kinh tế nào nhưng vẫn phải lập báo cáo tài chính hợp nhất nếu đáp ứng điều kiện tại Điều 195.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.