Điều 204. Nguyên tắc xác định thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ 1. Thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm: a) Thiệt hại về vật chất bao gồm các tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại; b) Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất khác về tinh thần gây ra cho tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; người biểu diễn; tác giả của sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống cây trồng. 2. Mức độ thiệt hại được xác định trên cơ sở các tổn thất thực tế mà chủ thể quyền sở hữu trí tuệ phải chịu do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây ra.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Theo quy định tại Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH 2026, thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm ba loại chính: thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần, và thiệt hại khác do hành vi xâm phạm gây ra.
Thiệt hại về vật chất là những tổn thất có thể tính toán được bằng tiền, bao gồm: tổn thất về tài sản; mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận; tổn thất về cơ hội kinh doanh; chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại. Ví dụ, doanh nghiệp A sản xuất hàng giả nhãn hiệu của doanh nghiệp B khiến doanh thu của B sụt giảm 30% trong quý; khoản sụt giảm này là thiệt hại vật chất trực tiếp. Chi phí thuê luật sư, chi phí giám định, chi phí yêu cầu cơ quan nhà nước xử lý hành vi xâm phạm cũng thuộc nhóm này.
Thiệt hại về tinh thần bao gồm các tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng của tác giả, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ. Ví dụ, tác phẩm văn học bị sửa chữa, cắt xén làm sai lệch nội dung gây ảnh hưởng đến danh dự tác giả; hoặc nhãn hiệu nổi tiếng bị gắn lên sản phẩm kém chất lượng làm giảm uy tín thương hiệu.
Thiệt hại khác là những tổn thất không thuộc hai nhóm trên nhưng vẫn phát sinh từ hành vi xâm phạm, chẳng hạn chi phí khắc phục hậu quả trên thị trường, chi phí truyền thông để phục hồi hình ảnh thương hiệu.
Việc xác định cụ thể từng loại thiệt hại phải tuân theo nguyên tắc tại Điều 204: thiệt hại phải là hậu quả trực tiếp của hành vi xâm phạm, có căn cứ thực tế và tính toán hợp lý. Đồng thời, theo Điều 203, nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh thiệt hại thực tế đã xảy ra và mức thiệt hại cụ thể; nếu không chứng minh được mức thiệt hại chính xác, Tòa án có thể ấn định mức bồi thường theo quy định tại Điều 205.
Thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được xác định dựa trên các nguyên tắc quy định tại Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH năm 2026. Theo đó, thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.
Thiệt hại về vật chất là những tổn thất thực tế có thể tính được bằng tiền, bao gồm: tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn và khắc phục thiệt hại. Thiệt hại về tinh thần là những tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng và những tổn thất tinh thần khác gây ra cho tác giả, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ.
Nguyên tắc xác định thiệt hại gắn liền với nghĩa vụ chứng minh của đương sự theo Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH năm 2026. Nguyên đơn phải chứng minh thiệt hại thực tế đã xảy ra và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xâm phạm với thiệt hại. Đây là điểm khác biệt quan trọng so với trách nhiệm hành chính hay hình sự, nơi cơ quan nhà nước đóng vai trò chứng minh hành vi vi phạm.
Về căn cứ xác định mức bồi thường, Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH năm 2026 cho phép nguyên đơn lựa chọn một trong các căn cứ: thiệt hại thực tế đã xác định được; khoản lợi nhuận mà bị đơn thu được từ hành vi xâm phạm; giá chuyển giao quyền sử dụng theo hợp đồng li-xăng trong điều kiện tương đương; hoặc yêu cầu Tòa án ấn định mức bồi thường trong phạm vi luật định khi không xác định được đầy đủ thiệt hại.
Ví dụ thực tiễn: doanh nghiệp A phát hiện doanh nghiệp B sản xuất hàng hóa gắn nhãn hiệu trùng với nhãn hiệu đã được bảo hộ của mình. A có thể chứng minh doanh thu sụt giảm trong kỳ B tung hàng ra thị trường, đồng thời yêu cầu B nộp sổ sách kế toán để xác định lợi nhuận thu được từ hàng hóa xâm phạm. Trường hợp không chứng minh được chính xác mức thiệt hại, A vẫn có quyền yêu cầu Tòa án ấn định mức bồi thường dựa trên các tình tiết thực tế của vụ việc.
Việc xác định mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện trên cơ sở kết hợp giữa nguyên tắc xác định thiệt hại quy định tại Điều 204 và các căn cứ cụ thể quy định tại Điều 205 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH năm 2026.
Theo Điều 204, thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Thiệt hại về vật chất là tổn thất thực tế về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn và khắc phục thiệt hại. Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng của tác giả, chủ sở hữu quyền.
Điều 205 quy định bốn căn cứ xác định mức bồi thường, áp dụng theo thứ tự ưu tiên do nguyên đơn lựa chọn. Thứ nhất, căn cứ vào tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn thu được từ hành vi xâm phạm, nếu mức lợi nhuận bị giảm sút của nguyên đơn chưa được tính vào tổng thiệt hại vật chất. Thứ hai, căn cứ vào giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ theo hợp đồng li-xăng, với giả định bị đơn được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng hợp pháp. Thứ ba, trong trường hợp không xác định được mức bồi thường theo hai căn cứ trên, nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án ấn định mức bồi thường từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tùy theo mức độ thiệt hại. Thứ tư, ngoài các khoản bồi thường nêu trên, chủ thể quyền còn được bồi thường chi phí hợp lý để thuê luật sư.
Ví dụ thực tiễn: doanh nghiệp A phát hiện doanh nghiệp B sản xuất, kinh doanh sản phẩm sao chép kiểu dáng công nghiệp đã được bảo hộ. A chứng minh doanh thu bán hàng giảm 02 tỷ đồng, chi phí ngăn chặn xâm phạm 100 triệu đồng; đồng thời chứng minh B thu lợi nhuận 500 triệu đồng chưa trùng với khoản thiệt hại của A. Mức bồi thường theo căn cứ thứ nhất là 2,6 tỷ đồng. Trường hợp không đủ chứng cứ chứng minh thiệt hại thực tế, A có thể yêu cầu Tòa án ấn định mức bồi thường trong khung từ 05 triệu đồng đến 500 triệu đồng.
Nghĩa vụ chứng minh thuộc về nguyên đơn theo Điều 203: nguyên đơn phải chứng minh hành vi xâm phạm, thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả. Riêng khoản lợi nhuận của bị đơn, nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án buộc bị đơn cung cấp chứng cứ; nếu bị đơn không cung cấp, Tòa án có thể căn cứ vào chứng cứ do nguyên đơn đưa ra để xác định.
Theo quy định tại Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH, thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm hai nhóm: thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Thiệt hại về vật chất là những tổn thất có thể lượng hóa bằng tiền, bao gồm: tổn thất về tài sản, mức giảm sút về thu nhập, lợi nhuận, tổn thất về cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn và khắc phục thiệt hại. Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về danh dự, nhân phẩm, uy tín, danh tiếng của tác giả, chủ sở hữu quyền hoặc tổ chức, cá nhân có quyền và lợi ích liên quan bị xâm phạm.
Về nguyên tắc xác định thiệt hại, Điều 204 yêu cầu thiệt hại phải được xác định trên cơ sở các tổn thất thực tế mà chủ thể quyền phải gánh chịu do hành vi xâm phạm gây ra, đồng thời có xét đến yếu tố lỗi của bên xâm phạm. Mức bồi thường cụ thể được xác định theo Điều 205, theo đó người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường theo một trong các căn cứ: tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền cộng với khoản lợi nhuận mà bên xâm phạm thu được nếu mức lợi nhuận này vượt quá mức thiệt hại vật chất; hoặc theo giá chuyển giao quyền sử dụng giả định; hoặc trong trường hợp không xác định được đầy đủ căn cứ, Tòa án ấn định mức bồi thường từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng tùy theo mức độ thiệt hại.
Ví dụ thực tiễn: doanh nghiệp A sản xuất mỹ phẩm bị doanh nghiệp B làm giả nhãn hiệu đã đăng ký. Thiệt hại vật chất của A gồm doanh thu sụt giảm do khách hàng mua nhầm hàng giả, chi phí thuê luật sư, chi phí giám định, chi phí thu hồi sản phẩm. Thiệt hại tinh thần thể hiện ở uy tín thương hiệu bị suy giảm khi người tiêu dùng phản ánh về chất lượng hàng giả kém. Theo Điều 203, nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xâm phạm với thiệt hại, trong khi bị đơn phải chứng minh lợi nhuận thu được nếu nguyên đơn yêu cầu bồi thường theo căn cứ lợi nhuận.
Nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong vụ án xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều 203 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH 2026. Theo đó, nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh mình là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm và chứng minh hành vi xâm phạm đã xảy ra. Đây là hai yếu tố nền tảng làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Khi yêu cầu bồi thường thiệt hại, nguyên đơn phải chứng minh thiệt hại thực tế đã xảy ra và mức thiệt hại cụ thể theo Điều 204 về nguyên tắc xác định thiệt hại. Thiệt hại bao gồm tổn thất về tài sản, giảm sút thu nhập, lợi nhuận, cơ hội kinh doanh, chi phí hợp lý để ngăn chặn và khắc phục thiệt hại. Nguyên đơn có quyền lựa chọn một trong các căn cứ tính mức bồi thường quy định tại Điều 205, nhưng phải cung cấp chứng cứ tương ứng cho căn cứ đã chọn.
Ví dụ thực tiễn: Doanh nghiệp A phát hiện doanh nghiệp B sản xuất hàng hóa gắn nhãn hiệu trùng với nhãn hiệu đã được bảo hộ của mình. A khởi kiện yêu cầu bồi thường. A phải chứng minh: (i) A là chủ sở hữu hợp pháp của nhãn hiệu thông qua Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu; (ii) B đã thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng hóa mang nhãn hiệu trùng mà không được phép; (iii) thiệt hại thực tế của A, chẳng hạn doanh thu sụt giảm trong thời kỳ B bán hàng xâm phạm, được thể hiện qua báo cáo tài chính, hóa đơn, số liệu kế toán.
Trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm đã gây thiệt hại về vật chất cho mình nhưng không đủ căn cứ xác định mức bồi thường theo các căn cứ tại Điều 205, Tòa án có thẩm quyền ấn định mức bồi thường trong giới hạn do pháp luật quy định. Bị đơn có quyền phản bác bằng chứng cứ chứng minh không có hành vi xâm phạm hoặc mức thiệt hại thấp hơn yêu cầu của nguyên đơn. Việc phân định rõ nghĩa vụ chứng minh giúp bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, khách quan trong giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ.
Thực tiễn xét xử các vụ kiện sở hữu trí tuệ tại Việt Nam cho thấy mức bồi thường được Tòa án chấp nhận thường thấp hơn đáng kể so với yêu cầu của nguyên đơn. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở khó khăn trong việc chứng minh thiệt hại thực tế theo quy định tại Điều 204 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH năm 2026. Khoản 1 Điều 204 xác định thiệt hại do xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần; tuy nhiên, nguyên đơn phải tự mình thu thập, cung cấp chứng cứ chứng minh mức thiệt hại theo nguyên tắc quy định tại Điều 203 về quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự.
Trong nhiều vụ việc, nguyên đơn không chứng minh được đầy đủ các khoản tổn thất về tài sản, mức giảm sút thu nhập, lợi nhuận, tổn thất cơ hội kinh doanh hoặc chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại. Khi đó, Tòa án áp dụng căn cứ xác định mức bồi thường theo Điều 205. Khoản 3 Điều 205 cho phép Tòa án ấn định mức bồi thường trong trường hợp không xác định được mức bồi thường theo các căn cứ tại khoản 1 và khoản 2, nhưng mức ấn định không quá năm trăm triệu đồng. Đây là trần pháp lý quan trọng dẫn đến thực trạng mức bồi thường trong các vụ kiện sở hữu trí tuệ thường dao động ở mức vài chục triệu đến vài trăm triệu đồng, thấp hơn nhiều so với giá trị thiệt hại kinh tế thực tế mà chủ thể quyền phải gánh chịu.
Ví dụ thực tiễn, trong các vụ tranh chấp nhãn hiệu hoặc quyền tác giả đã được xét xử, Tòa án thường chỉ chấp nhận bồi thường các khoản chi phí thực tế có hóa đơn, chứng từ hợp lệ như chi phí thuê luật sư, chi phí giám định, chi phí ngăn chặn hành vi xâm phạm, trong khi yêu cầu bồi thường tổn thất về lợi nhuận hoặc cơ hội kinh doanh thường không được chấp nhận do thiếu chứng cứ định lượng. Điều này đặt ra yêu cầu đối với chủ thể quyền trong việc chủ động xây dựng hệ thống chứng cứ về doanh thu, lợi nhuận, thị phần trước và sau thời điểm xảy ra hành vi xâm phạm để có cơ sở yêu cầu mức bồi thường tương xứng với thiệt hại thực tế.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.