Điều 97. Thông tin phải thông báo công khai 1. Đối với tất cả hình thức khuyến mại quy định tại Điều 92 của Luật này, thương nhân thực hiện khuyến mại phải thông báo công khai các thông tin sau đây: a) Tên của hoạt động khuyến mại; b) Giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ khuyến mại và các chi phí có liên quan để giao hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại cho khách hàng; c) Tên, địa chỉ, số điện thoại của thương nhân thực hiện khuyến mại; d) Thời gian khuyến mại, ngày bắt đầu, ngày kết thúc và địa bàn hoạt động khuyến mại; đ) Trường hợp lợi ích của việc tham gia khuyến mại gắn với các điều kiện cụ thể thì trong thông báo phải nêu rõ hoạt động khuyến mại đó có kèm theo điều kiện và nội dung cụ thể của các điều kiện. 2. Ngoài các thông tin quy định tại khoản 1 Điều này, thương nhân còn phải thông báo công khai các thông tin liên quan đến hoạt động khuyến mại sau đây: a) Giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ được tặng cho khách hàng đối với hình thức khuyến mại quy định tại khoản 2 Điều 92 của Luật này; b) Trị giá tuyệt đối hoặc phần trăm thấp hơn giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ bình thường trước thời gian khuyến mại đối với hình thức khuyến mại quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật này; c) Giá trị bằng tiền hoặc lợi ích cụ thể mà khách hàng được hưởng từ phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ; địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ và các loại hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng có thể nhận được từ phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ đối với hình thức khuyến mại quy định tại kho
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Hoạt động ngân hàng, tín dụng phát sinh nhiều dạng tranh chấp đặc thù, gắn liền với quan hệ cấp tín dụng và các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Căn cứ quy định tại Điều 97 đến Điều 105 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024 về hoạt động cấp tín dụng, Điều 463 đến Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 về hợp đồng vay tài sản và Điều 292 đến Điều 307 Bộ luật Dân sự năm 2015 về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, có thể phân loại các tranh chấp ngân hàng thường gặp như sau:
Thứ nhất, tranh chấp về nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi trong hợp đồng tín dụng. Đây là loại tranh chấp phổ biến nhất. Bên vay vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, lãi đúng hạn theo thỏa thuận, dẫn đến việc tổ chức tín dụng khởi kiện đòi nợ. Căn cứ pháp lý chủ yếu là Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Ví dụ: khách hàng vay vốn kinh doanh nhưng do hoạt động thua lỗ nên không trả được nợ đến hạn, ngân hàng phải xử lý nợ xấu và khởi kiện ra Tòa án.
Thứ hai, tranh chấp về lãi suất và cách tính lãi. Các bên thường phát sinh mâu thuẫn về mức lãi suất áp dụng, lãi suất quá hạn, lãi phạt chậm trả, đặc biệt khi lãi suất thả nổi thay đổi theo thời kỳ. Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trần lãi suất cho vay không vượt quá 20%/năm, là căn cứ để Tòa án xem xét tính hợp pháp của thỏa thuận lãi suất.
Thứ ba, tranh chấp liên quan đến biện pháp bảo đảm tiền vay. Bao gồm tranh chấp về hiệu lực hợp đồng thế chấp, cầm cố, bảo lãnh; thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên nhận bảo đảm; quyền xử lý tài sản bảo đảm khi bên vay không trả nợ. Căn cứ pháp lý là Điều 292 đến Điều 307 Bộ luật Dân sự năm 2015. Ví dụ: tài sản thế chấp bị bên thứ ba chiếm giữ trái phép, ngân hàng không thể xử lý tài sản để thu hồi nợ.
Thứ tư, tranh chấp về hợp đồng bảo lãnh ngân hàng. Phát sinh khi bên bảo lãnh từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh hoặc có tranh cãi về phạm vi, điều kiện bảo lãnh theo quy định tại Điều 335 đến Điều 343 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Thứ năm, tranh chấp về xử lý nợ xấu và mua bán nợ. Liên quan đến việc tổ chức tín dụng bán nợ cho Công ty Quản lý tài sản (VAMC) hoặc bên mua nợ khác, phát sinh tranh cãi về giá trị khoản nợ, quyền và nghĩa vụ của bên mua nợ theo quy định tại Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024.
Tranh chấp hợp đồng tín dụng phát sinh chủ yếu từ việc một bên vi phạm nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng, phổ biến nhất là bên vay không trả nợ gốc, lãi đúng hạn hoặc sử dụng vốn sai mục đích. Về bản chất pháp lý, hợp đồng tín dụng là một dạng hợp đồng vay tài sản, được điều chỉnh bởi quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay và bên vay phải hoàn trả đúng số lượng, chất lượng khi đến hạn. Đồng thời, hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng còn chịu sự điều chỉnh của Luật các Tổ chức tín dụng 2024, đặc biệt là các quy định từ Điều 97 đến Điều 105 về nguyên tắc, điều kiện và giới hạn cấp tín dụng.
Các dạng tranh chấp thường gặp bao gồm: tranh chấp về nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi, tranh chấp về lãi suất, phí, tranh chấp về hiệu lực của hợp đồng bảo đảm, và tranh chấp về việc xử lý tài sản bảo đảm. Về lãi suất, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 quy định lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Trong thực tiễn, nhiều tranh chấp phát sinh khi tổ chức tín dụng áp dụng lãi suất quá hạn, lãi phạt chậm trả vượt mức trần cho phép, dẫn đến yêu cầu tuyên bố một phần thỏa thuận lãi suất vô hiệu.
Về biện pháp bảo đảm, khi bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ, tổ chức tín dụng có quyền xử lý tài sản bảo đảm theo Điều 299 Bộ luật Dân sự 2015 và các quy định từ Điều 292 đến Điều 307 về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Ví dụ thực tiễn: Ngân hàng A cho Công ty B vay 10 tỷ đồng, bảo đảm bằng quyền sử dụng đất. Công ty B không trả nợ đúng hạn, Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu Công ty B thanh toán toàn bộ nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn và yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Tòa án sẽ xem xét tính hợp pháp của hợp đồng tín dụng, mức lãi suất áp dụng và thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm.
Tranh chấp về bảo đảm tiền vay phát sinh khi bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, dẫn đến việc bên cho vay yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm. Căn cứ pháp lý chủ yếu là Bộ luật Dân sự 2015, từ Điều 292 đến Điều 307 về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, cùng với Luật các Tổ chức tín dụng 2024 (Điều 97 đến Điều 105) về hoạt động tín dụng.
Theo Điều 292 Bộ luật Dân sự 2015, các biện pháp bảo đảm gồm cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, tín chấp và cầm giữ tài sản. Trong hoạt động ngân hàng, thế chấp tài sản là biện pháp phổ biến nhất. Tranh chấp thường xoay quanh ba nhóm vấn đề: (i) hiệu lực của hợp đồng bảo đảm; (ii) thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên nhận bảo đảm; (iii) phương thức xử lý tài sản bảo đảm.
Về hiệu lực, Điều 298 Bộ luật Dân sự 2015 quy định hợp đồng bảo đảm phải được lập thành văn bản; đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, việc thế chấp phải được công chứng và đăng ký theo quy định pháp luật về đất đai. Tranh chấp thường phát sinh khi tài sản thế chấp là tài sản hình thành trong tương lai hoặc tài sản chung của hộ gia đình mà thiếu sự đồng ý của các thành viên.
Về thứ tự ưu tiên thanh toán, Điều 308 Bộ luật Dân sự 2015 xác định thứ tự dựa trên thời điểm đăng ký biện pháp bảo đảm. Ví dụ thực tiễn: doanh nghiệp A thế chấp cùng một bất động sản cho ngân hàng B và ngân hàng C. Nếu ngân hàng B đăng ký giao dịch bảo đảm trước, khi xử lý tài sản, ngân hàng B được ưu tiên thanh toán trước ngân hàng C. Tranh chấp xảy ra khi một bên cho rằng việc đăng ký không hợp lệ hoặc tài sản bảo đảm bị định giá thấp hơn giá trị thực tế.
Về xử lý tài sản bảo đảm, Điều 303 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép bên nhận bảo đảm xử lý tài sản theo thỏa thuận, theo quy định pháp luật hoặc bán đấu giá. Luật các Tổ chức tín dụng 2024 bổ sung quyền của tổ chức tín dụng trong việc thu giữ, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Tranh chấp thường phát sinh khi bên vay không bàn giao tài sản, cản trở việc xử lý, hoặc khi giá trị tài sản sau xử lý không đủ thanh toán nghĩa vụ, dẫn đến yêu cầu tiếp tục truy thu phần nợ còn thiếu theo Điều 307 Bộ luật Dân sự 2015.
Trong hoạt động ngân hàng, tín dụng, việc xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm là khâu trọng yếu nhằm thu hồi vốn vay, bảo đảm an toàn hệ thống. Theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng vay tài sản làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả của bên vay đối với bên cho vay. Khi bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, khoản vay có nguy cơ chuyển thành nợ xấu, tổ chức tín dụng có quyền áp dụng các biện pháp xử lý theo thỏa thuận và quy định pháp luật.
Về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, Điều 292 Bộ luật Dân sự 2015 liệt kê các biện pháp gồm cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, tín chấp và cầm giữ tài sản. Trong hoạt động tín dụng ngân hàng, thế chấp tài sản là biện pháp phổ biến nhất. Theo Điều 299 Bộ luật Dân sự 2015, bên nhận bảo đảm có quyền xử lý tài sản bảo đảm khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Phương thức xử lý tài sản bảo đảm được quy định tại Điều 303 Bộ luật Dân sự 2015, bao gồm bán đấu giá, tự bán tài sản hoặc nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ.
Luật các Tổ chức tín dụng 2024 (số 32/2024/QH15) tại các Điều 97 đến Điều 105 quy định về hoạt động cấp tín dụng, quyền và nghĩa vụ của tổ chức tín dụng trong quản lý, xử lý nợ. Tổ chức tín dụng có quyền cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi, bán nợ, xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo thỏa thuận và quy định pháp luật. Ví dụ thực tiễn: Ngân hàng A cho Công ty B vay 10 tỷ đồng, bảo đảm bằng quyền sử dụng đất. Khi Công ty B không trả nợ đúng hạn, khoản vay bị chuyển nhóm nợ xấu. Ngân hàng A có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp thông qua bán đấu giá theo Điều 303 Bộ luật Dân sự 2015, số tiền thu được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Công ty B.
Như vậy, việc xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm phải tuân thủ chặt chẽ quy định của Bộ luật Dân sự 2015 và Luật các Tổ chức tín dụng 2024, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của các bên và sự an toàn của hệ thống tín dụng.
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp ngân hàng được xác định theo tính chất của quan hệ tranh chấp và thỏa thuận của các bên, bao gồm ba phương thức chủ yếu: Tòa án nhân dân, Trọng tài thương mại và hòa giải.
Thứ nhất, thẩm quyền của Tòa án nhân dân. Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng vay là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Hợp đồng tín dụng có bản chất là hợp đồng vay tài sản theo Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, theo đó bên cho vay (tổ chức tín dụng) giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả đầy đủ. Khi phát sinh tranh chấp về nghĩa vụ trả nợ, lãi suất theo Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 hoặc về xử lý tài sản bảo đảm theo Điều 292 đến Điều 307 Bộ luật Dân sự 2015, Tòa án có thẩm quyền thụ lý, giải quyết. Ví dụ: ngân hàng khởi kiện khách hàng không trả nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng, yêu cầu phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất; Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi có bất động sản hoặc nơi bị đơn cư trú có thẩm quyền giải quyết.
Thứ hai, thẩm quyền của Trọng tài thương mại. Tranh chấp ngân hàng có thể được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thỏa thuận trọng tài hợp pháp. Theo Điều 5 Luật Trọng tài thương mại 2010, tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại, trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại, thuộc thẩm quyền của Trọng tài. Hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng là hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lợi theo Điều 3 Luật Thương mại 2005. Ví dụ: hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và doanh nghiệp có điều khoản thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC); khi phát sinh tranh chấp, Tòa án phải từ chối thụ lý nếu có yêu cầu của một bên và thỏa thuận trọng tài có hiệu lực.
Thứ ba, hòa giải. Các bên có thể tự thương lượng, hòa giải hoặc yêu cầu hòa giải tại Tòa án, hòa giải thương mại theo quy định của pháp luật. Kết quả hòa giải thành được công nhận có giá trị thi hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Thứ nhất, xác định đúng bản chất pháp lý của hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng là một dạng hợp đồng vay tài sản có điều kiện thương mại, chịu sự điều chỉnh đồng thời của Luật Các tổ chức tín dụng 2024 và Bộ luật Dân sự 2015. Theo Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả tài sản cùng loại và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Trong thực tiễn, tranh chấp thường phát sinh khi ngân hàng áp dụng lãi suất thả nổi nhưng không thông báo rõ ràng cách tính lãi, dẫn đến khiếu kiện về khoản lãi phát sinh ngoài dự kiến của khách hàng.
Thứ hai, tuân thủ nghiêm ngặt quy định về lãi suất và giới hạn cho vay. Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 quy định lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Đối với tổ chức tín dụng, lãi suất cho vay được thực hiện theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, nhưng vẫn phải bảo đảm tính minh bạch trong hợp đồng. Thực tiễn xét xử cho thấy nhiều vụ án ngân hàng thắng kiện về nợ gốc nhưng bị bác một phần yêu cầu lãi do cách tính lãi phạt, lãi quá hạn không rõ ràng hoặc vượt trần quy định.
Thứ ba, đặc biệt lưu ý đến hiệu lực và phạm vi của biện pháp bảo đảm. Theo Điều 292 Bộ luật Dân sự 2015, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bao gồm cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, tín chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu và cầm giữ tài sản. Tranh chấp phổ biến nhất liên quan đến thế chấp quyền sử dụng đất khi tài sản bảo đảm là tài sản chung của hộ gia đình nhưng chỉ một thành viên ký hợp đồng thế chấp. Trong trường hợp này, hợp đồng thế chấp có thể bị tuyên vô hiệu một phần hoặc toàn bộ theo quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự 2015, gây rủi ro lớn cho ngân hàng trong quá trình xử lý nợ.
Thứ tư, thực hiện đúng trình tự xử lý tài sản bảo đảm. Khoản 1 Điều 303 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép bên nhận bảo đảm xử lý tài sản theo phương thức đã thỏa thuận, bao gồm bán tài sản, nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ hoặc các phương thức khác. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy ngân hàng thường gặp khó khăn khi bên bảo đảm không hợp tác bàn giao tài sản. Việc ngân hàng tự ý thu giữ tài sản khi chưa có thỏa thuận rõ ràng hoặc chưa có quyết định của cơ quan có thẩm quyền có thể dẫn đến tranh chấp mới về hành vi chiếm giữ tài sản trái pháp luật.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.