Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó: a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; b) Con thành niên mà không có khả năng lao động. 2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Theo quy định tại khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc là những người sau đây, nếu họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật:
Như vậy, nhóm đối tượng được pháp luật bảo vệ đặc biệt này bao gồm hai nhóm chính. Nhóm thứ nhất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống gần gũi nhất với người lập di chúc, gồm cha, mẹ, vợ, chồng và con chưa thành niên. Nhóm thứ hai là con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, tức là người con tuy đã đủ 18 tuổi nhưng do tình trạng sức khỏe, thể chất hoặc tinh thần mà không thể tự lao động để nuôi sống bản thân.
Điều kiện để được hưởng thừa kế không phụ thuộc di chúc là những người này phải thuộc diện được hưởng thừa kế theo pháp luật theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 và không thuộc trường hợp bị tước quyền hưởng di sản theo khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015. Nếu người thừa kế thuộc diện nêu trên bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc có hành vi ngược đãi nghiêm trọng, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản, thì họ không được hưởng quyền bảo vệ này.
Ví dụ thực tiễn: Ông A có vợ là bà B và hai con là C (15 tuổi) và D (25 tuổi, khỏe mạnh). Ông A lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho người con D, không cho bà B và cháu C hưởng gì. Trong trường hợp này, bà B và cháu C vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, bởi họ là vợ và con chưa thành niên của ông A. Phần di sản còn lại sau khi đã trích cho bà B và cháu C mới thuộc về người con D theo di chúc.
Để xác định 2/3 suất thừa kế theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, trước hết cần xác định suất thừa kế theo pháp luật. Suất thừa kế theo pháp luật là phần di sản mà một người thừa kế theo pháp luật được hưởng nếu di sản được chia theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, tức chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, trong trường hợp không có di chúc.
Công thức tính như sau: lấy tổng giá trị di sản của người chết để lại, chia đều cho tổng số người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật. Kết quả thu được là một suất thừa kế theo pháp luật. Hai phần ba suất thừa kế chính là hai phần ba của kết quả đó. Những người được hưởng 2/3 suất thừa kế theo Điều 644 gồm: con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; con thành niên mà không có khả năng lao động. Điều kiện áp dụng là những người này bị người lập di chúc truất quyền hưởng di sản hoặc chỉ được hưởng phần di sản ít hơn 2/3 suất thừa kế theo pháp luật.
Ví dụ: Ông A có vợ là bà B, hai con là C (15 tuổi) và D (25 tuổi, có khả năng lao động). Di sản của ông A là 1,8 tỷ đồng. Ông A lập di chúc để lại toàn bộ di sản cho D, truất quyền thừa kế của bà B và C. Hàng thừa kế thứ nhất của ông A gồm: bà B, C, D. Suất thừa kế theo pháp luật là 1,8 tỷ đồng chia cho 3 người, bằng 600 triệu đồng. Hai phần ba suất thừa kế là 400 triệu đồng. Theo Điều 644, bà B và C là những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, mỗi người được hưởng 400 triệu đồng. Phần còn lại của di sản sau khi thanh toán cho bà B và C là 1 tỷ đồng thuộc về D theo di chúc.
Trường hợp người thừa kế thuộc diện quy định tại Điều 644 nhưng bị xác định là người không được quyền hưởng di sản theo Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, thì họ không được hưởng 2/3 suất thừa kế. Ví dụ, người có hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người để lại di sản hoặc người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản, thì không được hưởng quyền này.
Quyền hưởng 2/3 suất thừa kế theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 không phải là quyền tuyệt đối. Quyền này bị loại trừ trong các trường hợp sau đây:
Thứ nhất, người thừa kế thuộc diện bị tước quyền hưởng di sản theo Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015. Khoản 1 Điều 621 quy định người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản; người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, giả mạo, sửa chữa, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Những người này không được hưởng di sản, do đó không thể viện dẫn Điều 644 để yêu cầu 2/3 suất thừa kế. Ví dụ: con trai bị kết án về tội cố ý gây thương tích cho cha mình dẫn đến cha tử vong, dù thuộc hàng thừa kế thứ nhất, vẫn bị loại trừ hoàn toàn quyền hưởng di sản, kể cả quyền theo Điều 644.
Thứ hai, người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. Khi người thuộc diện quy định tại Điều 644 đã tự nguyện từ chối nhận di sản hợp pháp, quyền hưởng 2/3 suất thừa kế của họ chấm dứt. Ví dụ: người con chưa thành niên thông qua người đại diện hợp pháp từ chối nhận di sản vì di sản chủ yếu là nợ, việc từ chối được lập thành văn bản và thực hiện đúng thủ tục, thì không còn quyền yêu cầu 2/3 suất.
Thứ ba, người thừa kế không thuộc diện quy định tại khoản 1 Điều 644. Điều 644 chỉ bảo vệ con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng của người để lại di sản; con thành niên mà không có khả năng lao động. Những người thừa kế khác theo Điều 651 như anh chị em ruột, ông bà nội ngoại không được hưởng quyền này. Ví dụ: người để lại di sản không có vợ, con, cha mẹ còn sống, chỉ còn anh ruột là người thừa kế theo pháp luật, thì anh ruột không được hưởng 2/3 suất dù di chúc truất quyền thừa kế của họ.
Như vậy, quyền hưởng 2/3 suất thừa kế chỉ bị loại trừ khi người thừa kế rơi vào các trường hợp bị tước quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản hợp pháp, hoặc không thuộc phạm vi bảo vệ của Điều 644.
Trường hợp người lập di chúc đã định đoạt toàn bộ hoặc một phần di sản cho người thừa kế theo di chúc, việc phân chia di sản trước hết phải tuân theo ý chí của người lập di chúc. Tuy nhiên, quyền tự do định đoạt này không phải là tuyệt đối. Khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó: con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; con thành niên mà không có khả năng lao động. Quy định này nhằm bảo vệ nhóm người có quan hệ thân thuộc gần gũi nhất với người để lại di sản, bảo đảm sự ổn định đời sống tối thiểu cho họ ngay cả khi người lập di chúc không mong muốn.
Ví dụ: Ông A có khối tài sản riêng trị giá 1,2 tỷ đồng, lập di chúc để lại toàn bộ cho người con trai trưởng là B. Ông A còn có vợ là bà C và con gái chưa thành niên là D. Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, hàng thừa kế thứ nhất của ông A gồm bà C, B và D. Nếu chia theo pháp luật, mỗi suất thừa kế là 400 triệu đồng, hai phần ba suất là 266,67 triệu đồng. Do di chúc không cho bà C và D hưởng di sản, họ vẫn được hưởng mỗi người 266,67 triệu đồng theo Điều 644. Phần còn lại của di sản sau khi trích cho bà C và D được chia cho B theo di chúc.
Khi xác định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, cần lưu ý trường hợp người thuộc diện quy định tại Điều 644 nhưng bị tước quyền hưởng di sản theo Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 thì không được hưởng phần di sản bắt buộc này. Quy định tại khoản 1 Điều 644 chỉ áp dụng khi di sản được phân chia theo di chúc; nếu người lập di chúc không lập di chúc hoặc di chúc không hợp pháp, di sản được chia theo pháp luật và không đặt ra vấn đề hai phần ba suất thừa kế.
Tranh chấp về suất thừa kế bắt buộc phát sinh khi người lập di chúc không dành lại phần di sản tối thiểu cho những người thừa kế được pháp luật bảo vệ đặc biệt theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015. Khoản 1 Điều này quy định những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó: con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; con thành niên mà không có khả năng lao động.
Bản chất của tranh chấp thường nằm ở việc xác định suất thừa kế theo pháp luật để làm cơ sở tính phần hai phần ba. Theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, hàng thừa kế thứ nhất gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Khi tính suất thừa kế bắt buộc, cần giả định toàn bộ di sản được chia đều cho tất cả những người ở hàng thừa kế thứ nhất còn sống tại thời điểm mở thừa kế, sau đó nhân với hai phần ba.
Ví dụ thực tiễn: Ông A có vợ là bà B và hai con chung là C (15 tuổi) và D (25 tuổi, có khả năng lao động). Ông A lập di chúc để lại toàn bộ tài sản trị giá 1,2 tỷ đồng cho người con riêng là E. Khi ông A chết, bà B và cháu C thuộc diện được hưởng thừa kế bắt buộc. Hàng thừa kế thứ nhất gồm bà B, C, D và E (bốn người). Một suất thừa kế theo pháp luật là 300 triệu đồng; hai phần ba suất là 200 triệu đồng. Như vậy, bà B và cháu C mỗi người được hưởng tối thiểu 200 triệu đồng, phần còn lại của di sản mới được chia theo di chúc cho E.
Tranh chấp còn phát sinh khi một người thuộc diện hưởng suất bắt buộc bị tước quyền hưởng di sản. Khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 liệt kê các trường hợp người thừa kế không được quyền hưởng di sản, bao gồm người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản; người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản lập di chúc, giả mạo, sửa chữa, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 621 quy định rõ những người này vẫn được hưởng di sản nếu người để lại di sản đã biết hành vi của họ nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc. Đây là điểm mấu chốt khiến nhiều vụ tranh chấp kéo dài, bởi bên bị tước quyền thường viện dẫn ý chí khoan dung của người lập di chúc để yêu cầu được hưởng suất bắt buộc.
Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc có thể bảo vệ quyền lợi của mình thông qua các biện pháp pháp lý sau đây.
Thứ nhất, xác định tư cách người thừa kế bắt buộc. Căn cứ Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế bắt buộc bao gồm: con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng của người lập di chúc; con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động. Những người này được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó. Người thừa kế cần thu thập giấy tờ chứng minh quan hệ nhân thân như giấy khai sinh, đăng ký kết hôn, giấy xác nhận tình trạng mất khả năng lao động để xác lập tư cách.
Thứ hai, yêu cầu chia thừa kế theo quy định pháp luật. Khi di chúc không dành phần di sản cho người thừa kế bắt buộc hoặc dành phần ít hơn hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật, người này có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu xác định phần di sản được hưởng. Tòa án sẽ căn cứ Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 để xác định suất thừa kế theo pháp luật, từ đó tính ra hai phần ba suất mà người thừa kế bắt buộc được hưởng.
Thứ ba, lưu ý trường hợp bị tước quyền hưởng di sản. Theo Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế bắt buộc vẫn bị mất quyền hưởng di sản nếu thuộc các trường hợp như bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc ngược đãi nghiêm trọng người để lại di sản; vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; hoặc bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản. Người thừa kế cần tránh các hành vi này để không bị mất quyền.
Ví dụ thực tiễn: Ông A có vợ là bà B và hai con chung là C (15 tuổi), D (25 tuổi, khỏe mạnh). Ông A lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho D. Khi ông A mất, bà B và cháu C vẫn được hưởng di sản theo Điều 644. Giả sử di sản chia theo pháp luật, mỗi người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm bà B, C, D được một suất bằng nhau. Bà B và cháu C mỗi người được hưởng tối thiểu hai phần ba suất đó, phần còn lại thuộc về D theo di chúc.
Như vậy, để bảo vệ quyền lợi, người thừa kế bắt buộc cần chủ động xác lập tư cách, thu thập chứng cứ và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền can thiệp kịp thời trong thời hiệu khởi kiện theo quy định.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.