Điều 429. Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng
Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Thời hiệu khởi kiện là khoảng thời gian do pháp luật quy định mà trong đó chủ thể có quyền khởi kiện được quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Khi thời hiệu khởi kiện đã hết, quyền khởi kiện chấm dứt, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Khái niệm này được xác lập trên nền tảng quy định tại Điều 149 Bộ luật Dân sự 2015, theo đó thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định.
Đối với tranh chấp hợp đồng thương mại, Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu khởi kiện là 03 năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Đây là loại thời hiệu khởi kiện áp dụng riêng cho yêu cầu giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng, bao gồm cả hợp đồng thương mại. Cách tính thời hiệu được thực hiện theo Điều 150 Bộ luật Dân sự 2015: thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu. Ví dụ, doanh nghiệp A giao hàng cho doanh nghiệp B ngày 01/3/2024, theo hợp đồng B phải thanh toán chậm nhất ngày 31/3/2024. Nếu B không thanh toán, quyền lợi của A bị xâm phạm từ ngày 01/4/2024 và A có quyền khởi kiện đến hết ngày 01/4/2026.
Việc xác định đúng thời hiệu khởi kiện có ý nghĩa quyết định đến khả năng được Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án. Tranh chấp hợp đồng thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về tranh chấp kinh doanh, thương mại. Tuy nhiên, nếu hết thời hiệu mà đương sự mới nộp đơn khởi kiện và phía bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu, Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án. Do đó, doanh nghiệp cần chủ động theo dõi, xác định chính xác thời điểm quyền lợi bị xâm phạm để thực hiện quyền khởi kiện trong thời hạn luật định.
Thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng thương mại là khoảng thời gian do pháp luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó, bên có quyền khởi kiện mất quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Quy định này áp dụng chung cho cả hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại, bởi Bộ luật Dân sự được xác định là luật chung điều chỉnh quan hệ hợp đồng khi luật chuyên ngành không có quy định khác.
Cách tính thời hiệu được thực hiện theo Điều 149 và Điều 150 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu. Trường hợp thời hiệu rơi vào ngày nghỉ, ngày lễ thì ngày làm việc tiếp theo được tính là ngày cuối cùng. Thời hiệu có thể bị gián đoạn khi có sự kiện do pháp luật quy định, chẳng hạn bên có nghĩa vụ thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình, hoặc bắt đầu lại khi có hành vi vi phạm mới.
Về thẩm quyền giải quyết, Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự. Ví dụ thực tiễn: Công ty A giao hàng cho Công ty B theo hợp đồng mua bán hàng hóa ngày 10/01/2022, thời hạn thanh toán là 30 ngày kể từ ngày nhận hàng. Đến ngày 10/02/2022, Công ty B không thanh toán. Thời hiệu khởi kiện của Công ty A bắt đầu tính từ ngày 11/02/2022 và kết thúc vào ngày 11/02/2025. Nếu sau thời điểm này Công ty A mới khởi kiện mà không có căn cứ xác định thời hiệu bị gián đoạn hoặc bắt đầu lại, Tòa án sẽ áp dụng quy định về hết thời hiệu để đình chỉ giải quyết vụ án theo yêu cầu của đương sự.
Thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng thương mại được xác định là 03 năm kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015. Đây là thời hiệu đặc thù áp dụng cho tranh chấp hợp đồng thương mại, ngắn hơn thời hiệu 03 năm áp dụng cho tranh chấp hợp đồng dân sự thông thường.
Về nguyên tắc xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu, Điều 149 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu. Điều 150 Bộ luật Dân sự 2015 quy định cụ thể cách tính thời hiệu theo năm: thời hiệu tính theo năm sẽ kết thúc vào ngày tương ứng của tháng tương ứng trong năm cuối cùng của thời hiệu.
Ví dụ thực tiễn: Công ty A ký hợp đồng mua bán hàng hóa với Công ty B, thời hạn thanh toán là ngày 15/6/2023. Đến ngày 15/6/2023, Công ty B không thanh toán, quyền lợi của Công ty A bị xâm phạm từ thời điểm này. Thời hiệu khởi kiện 03 năm bắt đầu tính từ ngày 16/6/2023 và kết thúc vào ngày 15/6/2026. Nếu Công ty A khởi kiện sau ngày 15/6/2026 mà không thuộc trường hợp bắt đầu lại hoặc tạm đình chỉ thời hiệu theo quy định tại Điều 157 và Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015, yêu cầu khởi kiện có thể bị đình chỉ do hết thời hiệu.
Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về thời điểm thực hiện nghĩa vụ theo từng giai đoạn, thời hiệu được tính riêng cho từng giai đoạn kể từ thời điểm quyền lợi bị xâm phạm tương ứng. Đối với tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, việc xác định đúng thời điểm bắt đầu và kết thúc thời hiệu có ý nghĩa quyết định đến quyền khởi kiện của đương sự.
Thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng thương mại được xác định căn cứ vào tính chất của từng loại tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại. Theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Quy định này được áp dụng chung cho các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng, bao gồm cả hợp đồng thương mại.
Đối với tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện được phân loại theo từng nhóm tranh chấp cụ thể. Tranh chấp phát sinh từ hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại, tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thương mại áp dụng thời hiệu 03 năm theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015. Ví dụ, doanh nghiệp A ký hợp đồng mua bán hàng hóa với doanh nghiệp B, nếu B không thanh toán đúng hạn, thời hiệu khởi kiện của A được tính từ ngày A biết hoặc phải biết về việc B vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
Đối với tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong hoạt động thương mại, thời hiệu khởi kiện là 03 năm theo quy định tại Điều 588 Bộ luật Dân sự 2015. Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu có thời hiệu khởi kiện là 03 năm theo quy định tại Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015. Việc xác định đúng loại tranh chấp có ý nghĩa quyết định trong việc áp dụng thời hiệu khởi kiện tương ứng.
Cách tính thời hiệu được thực hiện theo quy định tại Điều 149 và Điều 150 Bộ luật Dân sự 2015. Thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu. Trường hợp thời hiệu bị gián đoạn do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, thời gian xảy ra sự kiện đó không tính vào thời hiệu. Ví dụ, nếu doanh nghiệp gặp thiên tai, dịch bệnh khiến không thể khởi kiện trong thời gian 06 tháng, khoảng thời gian này được loại trừ khỏi thời hiệu khởi kiện.
Bộ luật Dân sự năm 2015 không sử dụng thuật ngữ “tạm dừng” thời hiệu khởi kiện mà quy định về các trường hợp thời hiệu khởi kiện chưa bắt đầu, bắt đầu lại và không áp dụng thời hiệu. Đối với tranh chấp hợp đồng thương mại, thời hiệu khởi kiện được xác định theo Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015 là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm; cách tính thời hiệu và các trường hợp bắt đầu lại thời hiệu được áp dụng theo quy định chung tại Điều 149 và Điều 150 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện bắt đầu lại trong các trường hợp sau đây: (i) bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; (ii) bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; (iii) các bên đã tự hòa giải với nhau. Khi thời hiệu bắt đầu lại, thời hiệu khởi kiện được tính lại từ đầu, kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện quy định tại khoản 1 Điều 157.
Ví dụ thực tiễn: Công ty A ký hợp đồng mua bán hàng hóa với Công ty B, thời hạn thanh toán là ngày 01/3/2023. Đến ngày 01/3/2025, thời hiệu khởi kiện 03 năm sẽ kết thúc. Tuy nhiên, ngày 15/6/2024, Công ty B có văn bản xác nhận còn nợ Công ty A số tiền 500 triệu đồng và cam kết thanh toán. Theo điểm a khoản 1 Điều 157, việc thừa nhận nghĩa vụ này làm thời hiệu khởi kiện bắt đầu lại từ ngày 16/6/2024 và kéo dài đến hết ngày 15/6/2026. Trường hợp Công ty B mới chỉ thanh toán một phần khoản nợ mà không có văn bản thừa nhận phần còn lại, việc thanh toán một phần cũng được coi là thừa nhận một phần nghĩa vụ theo điểm b khoản 1 Điều 157, dẫn đến thời hiệu khởi kiện đối với toàn bộ nghĩa vụ bắt đầu lại.
Ngoài ra, khoản 2 Điều 157 quy định thời hiệu khởi kiện bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện quy định tại khoản 1; đồng thời, theo Điều 156, thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho người khởi kiện không thể khởi kiện được trong phạm vi thời hiệu thì thời gian đó không tính vào thời hiệu khởi kiện. Đối với tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án theo Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, việc xác định đúng thời điểm bắt đầu lại thời hiệu có ý nghĩa quyết định đến quyền khởi kiện, tránh trường hợp Tòa án áp dụng quy định về hết thời hiệu dẫn đến đình chỉ giải quyết vụ án.
Khi thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng thương mại đã hết, bên có quyền lợi bị xâm phạm cần đặc biệt lưu ý các hệ quả pháp lý phát sinh theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015. Theo khoản 3 Điều 150 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Đối với tranh chấp hợp đồng thương mại, thời hiệu khởi kiện là 03 năm kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015.
Hệ quả quan trọng nhất khi hết thời hiệu là Tòa án sẽ không thụ lý giải quyết vụ án. Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết. Điều này đồng nghĩa với việc bên bị đơn phải chủ động yêu cầu áp dụng thời hiệu; nếu không có yêu cầu, Tòa án không tự mình áp dụng.
Ví dụ thực tiễn: Công ty A ký hợp đồng mua bán hàng hóa với Công ty B. Đến ngày 01/01/2023, Công ty B vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Thời hiệu khởi kiện của Công ty A bắt đầu tính từ ngày 01/01/2023 và kết thúc vào ngày 01/01/2025. Nếu sau ngày 01/01/2025, Công ty A mới nộp đơn khởi kiện và Công ty B yêu cầu áp dụng thời hiệu, Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án, Công ty A mất quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi.
Ngoài ra, cần phân biệt rõ việc hết thời hiệu khởi kiện không làm chấm dứt quyền dân sự của các bên theo hợp đồng. Nghĩa vụ thanh toán vẫn tồn tại trên thực tế; tuy nhiên, bên có quyền không còn khả năng yêu cầu cơ quan tư pháp cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ đó. Do vậy, doanh nghiệp cần theo dõi chặt chẽ thời điểm phát sinh quyền khởi kiện, chủ động tiến hành các biện pháp như gửi văn bản yêu cầu thanh toán, lập biên bản xác nhận công nợ để ghi nhận sự thừa nhận nghĩa vụ của bên vi phạm, từ đó có thể làm phát sinh thời hiệu mới theo quy định tại Điều 157 Bộ luật Dân sự 2015.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.