Điều 95. Chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ176 1. Văn bằng bảo hộ bị chấm dứt toàn bộ hoặc một phần hiệu lực trong các trường hợp sau đây: Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 29 Điều 1 của Luật số 07/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2023. Cụm từ “lệ phí duy trì hiệu lực” được thay thế bằng cụm từ “phí, lệ phí để duy trì hiệu lực” theo quy định tại điểm d khoản 82 Điều 1 của Luật số 07/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2023. Cụm từ “lệ phí gia hạn hiệu lực” được thay thế bằng cụm từ “phí, lệ phí để gia hạn hiệu lực” theo quy định tại điểm đ khoản 82 Điều 1 của Luật số 07/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2023. Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 26 Điều 1 của Luật số 131/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026. Khoản này được bổ sung theo quy định tại khoản 26 Điều 1 của Luật số 131/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026. Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 07/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2023. a) Chủ văn bằng bảo hộ không nộp phí, lệ phí để duy trì hiệu lực hoặc gia hạn hiệu lực theo quy định; b)
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Đình chỉ hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu là cơ chế tạm thời đình chỉ quyền của chủ văn bằng trong một khoảng thời gian nhất định, khác với chấm dứt hiệu lực (chấm dứt vĩnh viễn) hay hủy bỏ hiệu lực (coi như không phát sinh). Căn cứ pháp lý trực tiếp điều chỉnh cơ chế này được quy định tại Điều 95 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH năm 2026 về chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ, trong đó khoản 2 quy định trường hợp chủ văn bằng bảo hộ bị đình chỉ hoạt động kinh doanh theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì hiệu lực văn bằng bảo hộ bị đình chỉ trong thời gian chủ văn bằng bị đình chỉ hoạt động.
Về bản chất, đình chỉ hiệu lực phát sinh khi chủ thể quyền không còn đủ tư cách pháp lý để tiếp tục thực hiện quyền và nghĩa vụ liên quan đến nhãn hiệu trong một giai đoạn nhất định. Ví dụ thực tiễn: doanh nghiệp A là chủ văn bằng bảo hộ nhãn hiệu "ABC" bị cơ quan thuế ra quyết định đình chỉ hoạt động kinh doanh 06 tháng do vi phạm pháp luật về thuế. Trong thời gian này, hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu "ABC" bị đình chỉ theo quy định tại Điều 95. Hệ quả pháp lý là doanh nghiệp A không được thực hiện các quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu như chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng, hay khởi kiện xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu cho đến khi quyết định đình chỉ hoạt động kinh doanh được gỡ bỏ.
Cần phân biệt rõ đình chỉ hiệu lực với hủy bỏ hiệu lực theo Điều 96. Hủy bỏ hiệu lực áp dụng khi văn bằng bảo hộ được cấp trái với quy định về điều kiện bảo hộ tại thời điểm cấp, ví dụ nhãn hiệu không đáp ứng điều kiện chung theo Điều 72 (không có khả năng phân biệt, trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được bảo hộ). Trong khi đó, đình chỉ hiệu lực không đặt ra vấn đề tính hợp pháp của văn bằng tại thời điểm cấp, mà chỉ tạm ngưng hiệu lực do tình trạng pháp lý của chủ văn bằng thay đổi. Khi căn cứ đình chỉ chấm dứt, hiệu lực văn bằng bảo hộ tự động được khôi phục mà không cần thực hiện thủ tục cấp lại.
Việc hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu được quy định tại Điều 96 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH 2026, theo đó văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ toàn bộ hiệu lực khi thuộc một trong các trường hợp: người nộp đơn đăng ký không có quyền đăng ký và không được chuyển nhượng quyền đăng ký đối với nhãn hiệu; hoặc nhãn hiệu không đáp ứng các điều kiện bảo hộ tại thời điểm cấp văn bằng bảo hộ theo quy định tại Điều 72 của Luật này.
Điều 72 quy định điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ, bao gồm: nhãn hiệu là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc; và có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác. Bên cạnh đó, nhãn hiệu còn phải không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 73 về dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu.
Ví dụ thực tiễn: nhãn hiệu được cấp văn bằng bảo hộ nhưng sau đó bị phát hiện trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được bảo hộ trước đó cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự. Trường hợp này nhãn hiệu không đáp ứng điều kiện bảo hộ tại thời điểm cấp văn bằng, nên văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ hiệu lực theo điểm b khoản 1 Điều 96. Một ví dụ khác là người nộp đơn đăng ký nhãn hiệu không phải là chủ sở hữu hợp pháp của nhãn hiệu và không được chuyển nhượng quyền đăng ký, dẫn đến văn bằng bảo hộ bị hủy bỏ theo điểm a khoản 1 Điều 96.
Cần phân biệt hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ với chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ theo Điều 95. Chấm dứt hiệu lực áp dụng khi chủ văn bằng không duy trì hiệu lực (không nộp phí duy trì, từ bỏ quyền, không còn tồn tại) hoặc nhãn hiệu không được sử dụng liên tục từ năm năm trở lên. Trong khi đó, hủy bỏ hiệu lực xuất phát từ vi phạm điều kiện bảo hộ ngay tại thời điểm cấp văn bằng, mang tính truy nguyên về gốc. Hậu quả pháp lý của hủy bỏ là văn bằng bị coi như không có hiệu lực từ thời điểm cấp, khác với chấm dứt hiệu lực chỉ làm chấm dứt hiệu lực kể từ thời điểm xảy ra sự kiện pháp lý tương ứng.
Theo quy định tại Điều 96 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH, quyền yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ nhãn hiệu thuộc về tổ chức, cá nhân có quyền và lợi ích liên quan trực tiếp đến văn bằng bảo hộ đó. Đây là chủ thể có quyền khởi kiện hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét hủy bỏ khi cho rằng văn bằng được cấp trái với quy định pháp luật.
Cụ thể, các trường hợp phát sinh quyền yêu cầu hủy bỏ bao gồm: (i) người nộp đơn không có quyền đăng ký nhãn hiệu và không được chuyển nhượng quyền đăng ký; (ii) nhãn hiệu không đáp ứng điều kiện bảo hộ theo Điều 72 tại thời điểm cấp văn bằng. Trong các trường hợp này, bên có quyền và lợi ích liên quan trực tiếp có thể là chủ sở hữu nhãn hiệu đã được bảo hộ trước đó, chủ thể có quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng, hoặc tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng trực tiếp bởi việc cấp văn bằng trái pháp luật.
Ví dụ thực tiễn: Doanh nghiệp A đã sử dụng nhãn hiệu “X” rộng rãi trên thị trường nhưng chưa đăng ký. Doanh nghiệp B biết rõ điều này nhưng vẫn nộp đơn đăng ký nhãn hiệu “X” và được cấp văn bằng. Trong trường hợp này, doanh nghiệp A là bên có quyền và lợi ích liên quan trực tiếp, có quyền yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng của B trên cơ sở B không có quyền đăng ký theo quy định.
Đối với đình chỉ hiệu lực văn bằng bảo hộ, theo Điều 95 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất, quyền yêu cầu thuộc về bất kỳ tổ chức, cá nhân nào khi phát hiện căn cứ đình chỉ, chẳng hạn chủ văn bằng không duy trì hiệu lực sử dụng nhãn hiệu theo quy định. Khác với hủy bỏ, yêu cầu đình chỉ không đòi hỏi người yêu cầu phải chứng minh quyền và lợi ích liên quan trực tiếp, mà chỉ cần nêu rõ căn cứ pháp lý và bằng chứng về việc văn bằng thuộc trường hợp bị đình chỉ hiệu lực.
Như vậy, phạm vi chủ thể có quyền yêu cầu hủy bỏ hẹp hơn so với đình chỉ, phản ánh tính chất nghiêm trọng hơn của hậu quả pháp lý khi văn bằng bị hủy bỏ so với việc chỉ bị tạm thời đình chỉ hiệu lực.
Theo quy định tại Điều 96 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH 2026, khi nhãn hiệu bị hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu đó chấm dứt kể từ thời điểm văn bằng bảo hộ được cấp. Điều này có nghĩa hiệu lực pháp lý của văn bằng bị triệt tiêu ngay từ đầu (ex tunc), khác với trường hợp chấm dứt hiệu lực theo Điều 95 chỉ làm chấm dứt hiệu lực kể từ thời điểm phát sinh sự kiện chấm dứt (ex nunc).
Hậu quả pháp lý cụ thể bao gồm: Thứ nhất, chủ văn bằng không còn độc quyền sử dụng nhãn hiệu, không có quyền ngăn cấm người khác sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn. Thứ hai, mọi giao dịch chuyển nhượng, chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu đã thực hiện trước đó bị vô hiệu, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Thứ ba, chủ văn bằng không còn quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu.
Ví dụ thực tiễn: Nhãn hiệu “ABC” được cấp văn bằng bảo hộ nhưng sau đó bị phát hiện không đáp ứng điều kiện bảo hộ theo Điều 72 (trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được bảo hộ trước đó). Khi bị hủy bỏ, chủ sở hữu nhãn hiệu “ABC” không thể tiếp tục sử dụng độc quyền nhãn hiệu này, đồng thời các hợp đồng li-xăng đã ký với đối tác bị vô hiệu, phát sinh nghĩa vụ hoàn trả phí li-xăng đã nhận.
Ngoài ra, việc hủy bỏ văn bằng bảo hộ còn ảnh hưởng đến uy tín thương mại của doanh nghiệp, gây thiệt hại về đầu tư cho hoạt động quảng bá, xây dựng thương hiệu. Do đó, doanh nghiệp cần chủ động rà soát khả năng đáp ứng điều kiện bảo hộ trước khi nộp đơn đăng ký nhằm hạn chế rủi ro bị hủy bỏ hiệu lực văn bằng.
Để bảo vệ quyền đối với nhãn hiệu đã đăng ký trước nguy cơ bị chấm dứt hoặc hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ, chủ nhãn hiệu cần chủ động thực hiện đồng bộ các biện pháp pháp lý và thực tiễn sau đây.
Thứ nhất, duy trì việc sử dụng nhãn hiệu một cách liên tục và hợp pháp. Theo quy định tại Điều 95 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH 2026, văn bằng bảo hộ nhãn hiệu bị chấm dứt hiệu lực nếu nhãn hiệu không được chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu cho phép sử dụng trong thời hạn năm năm liên tục trước ngày có yêu cầu chấm dứt hiệu lực mà không có lý do chính đáng. Vì vậy, chủ nhãn hiệu cần lưu giữ đầy đủ chứng cứ về việc sử dụng thực tế nhãn hiệu trên hàng hóa, bao bì, phương tiện kinh doanh, hoạt động quảng cáo, hóa đơn bán hàng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng. Ví dụ, một doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo cần lưu trữ hóa đơn xuất kho, hình ảnh sản phẩm mang nhãn hiệu qua từng năm để chứng minh nhãn hiệu được sử dụng liên tục, tránh bị đối thủ yêu cầu chấm dứt hiệu lực với lý do không sử dụng.
Thứ hai, bảo đảm nhãn hiệu không thuộc các trường hợp bị hủy bỏ hiệu lực theo Điều 96 Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH 2026. Chủ nhãn hiệu cần rà soát tính hợp pháp của việc đăng ký ngay từ đầu, bảo đảm nhãn hiệu đáp ứng đầy đủ điều kiện bảo hộ quy định tại Điều 72 của Luật này, như có khả năng phân biệt, không trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được bảo hộ, không thuộc dấu hiệu bị loại trừ. Trường hợp phát hiện nhãn hiệu có nguy cơ bị hủy bỏ do vi phạm điều kiện bảo hộ, chủ nhãn hiệu cần kịp thời điều chỉnh phạm vi sử dụng hoặc thương lượng với bên liên quan để hạn chế rủi ro pháp lý.
Thứ ba, chủ động phản hồi khi có yêu cầu chấm dứt hoặc hủy bỏ hiệu lực từ bên thứ ba. Khi nhận được thông báo từ cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp, chủ nhãn hiệu cần nộp ý kiến phản đối kèm chứng cứ chứng minh quyền sở hữu hợp pháp và việc sử dụng nhãn hiệu trong thời hạn luật định. Việc phản hồi kịp thời, đầy đủ chứng cứ là yếu tố quyết định bảo vệ quyền của chủ nhãn hiệu trước các tranh chấp hành chính hoặc tố tụng.
Thực tiễn xét xử và giải quyết khiếu nại cho thấy, nhãn hiệu đã được cấp văn bằng bảo hộ vẫn có thể bị hủy bỏ hiệu lực theo Điều 96 của Luật Sở hữu trí tuệ hợp nhất 67/VBHN-VPQH 2026 trong ba trường hợp chủ yếu: người nộp đơn không có quyền đăng ký; nhãn hiệu không đáp ứng điều kiện bảo hộ tại thời điểm cấp văn bằng; và nhãn hiệu trở thành tên gọi thông thường của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu. Đây là điểm khác biệt quan trọng so với chấm dứt hiệu lực theo Điều 95, vốn gắn với các sự kiện phát sinh sau khi cấp văn bằng như chủ văn bằng không gia hạn, từ bỏ quyền hoặc không còn tồn tại.
Ví dụ thực tiễn phổ biến là tranh chấp nhãn hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được bảo hộ trước đó. Khi đó, bên có quyền lợi liên quan thường yêu cầu hủy bỏ văn bằng được cấp muộn hơn với lập luận nhãn hiệu vi phạm điều kiện quy định tại Điều 72, đặc biệt là khả năng phân biệt và không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn. Trường hợp khác là nhãn hiệu bị “thoái hóa” thành tên gọi chung, điển hình như một số nhãn hiệu nổi tiếng bị người tiêu dùng dùng để chỉ chung loại sản phẩm, dẫn đến nguy cơ mất tính phân biệt.
Lưu ý quan trọng: việc hủy bỏ hiệu lực văn bằng có hiệu lực hồi tố, tức nhãn hiệu bị coi như chưa từng được bảo hộ. Do đó, doanh nghiệp cần chủ động rà soát định kỳ tính hợp lệ của văn bằng, lưu giữ chứng cứ sử dụng nhãn hiệu liên tục và thực hiện biện pháp chống thoái hóa nhãn hiệu như hướng dẫn cách dùng đúng, cảnh báo bên thứ ba. Khi phát hiện nhãn hiệu của mình bị đăng ký trái phép, cần kịp thời nộp đơn yêu cầu hủy bỏ tại cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp hoặc khởi kiện ra Tòa án, tránh để quá thời hạn khiến quyền lợi khó được khôi phục.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.