Điều 661. Hạn chế phân chia di sản Trường hợp theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thỏa thuận của tất cả những người thừa kế, di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định thì chỉ khi đã hết thời hạn đó di sản mới được đem chia. Trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định. Thời hạn này không quá 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn 03 năm mà bên còn sống chứng minh được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đình họ thì có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nhưng không quá 03 năm.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Hạn chế phân chia di sản là trường hợp pháp luật tạm thời không cho phép hoặc trì hoãn việc chia di sản thừa kế trong một khoảng thời gian nhất định, nhằm bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên, người đã thành thai, hoặc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người để lại di sản. Đây là ngoại lệ đối với nguyên tắc người thừa kế có quyền yêu cầu chia di sản, được quy định tại Điều 661 Bộ luật Dân sự 2015.
Theo khoản 1 Điều 661, nếu người để lại di sản có nghĩa vụ tài sản nhưng chưa đến hạn thực hiện, hoặc có người thừa kế là người chưa thành niên, người đã thành thai mà chưa có người giám hộ đầy đủ, thì việc phân chia di sản phải tạm hoãn. Ví dụ: ông A qua đời để lại một khoản nợ đến tháng 12 mới đến hạn thanh toán. Các con ông A không thể yêu cầu chia toàn bộ di sản ngay trong tháng 6, vì cần giữ lại phần tài sản tương ứng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn.
Khoản 2 Điều 661 quy định trường hợp đặc biệt: nếu việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người vợ hoặc chồng còn sống và gia đình, thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia trong một thời hạn nhất định, tối đa không quá 03 năm. Hết thời hạn này, Tòa án có thể gia hạn thêm nhưng không quá 03 năm nữa. Ví dụ: bà B góa chồng, sống cùng con nhỏ trong căn nhà duy nhất là di sản thừa kế. Nếu chia ngay, bà B và con không còn nơi ở. Bà B có thể yêu cầu Tòa án tạm hoãn chia để ổn định cuộc sống.
Việc hạn chế phân chia di sản cần phân biệt với trường hợp xuất hiện người thừa kế mới theo Điều 662 Bộ luật Dân sự 2015, khi đó di sản đã chia vẫn có thể được phân chia lại. Đồng thời, hạn chế này không làm mất quyền hưởng di sản của người thừa kế theo quy định tại Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015 về phân chia di sản theo pháp luật, mà chỉ tạm thời trì hoãn thời điểm thực hiện quyền đó.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 661 Bộ luật Dân sự 2015, chủ thể có quyền yêu cầu hạn chế phân chia di sản bao gồm hai nhóm: người để lại di sản và những người thừa kế.
Thứ nhất, người để lại di sản có quyền lập di chúc để chỉ định người phân chia di sản hoặc ấn định thời điểm phân chia. Đây là sự thể hiện ý chí đơn phương của người có tài sản, được pháp luật tôn trọng trên nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận quy định tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015. Ví dụ, ông A lập di chúc để lại căn nhà cho ba người con nhưng ghi rõ chỉ được phân chia sau khi người con út tròn 25 tuổi. Yêu cầu này có giá trị ràng buộc những người thừa kế.
Thứ hai, những người thừa kế có quyền thỏa thuận về việc hạn chế phân chia di sản. Theo khoản 2 Điều 661, nếu di chúc đã xác định rõ các phần di sản nhưng những người thừa kế vẫn thỏa thuận không phân chia trong một thời hạn nhất định, thì thỏa thuận đó có hiệu lực. Trường hợp di chúc không xác định rõ phần của từng người, việc phân chia chỉ được thực hiện khi tất cả những người thừa kế đã được xác định và còn sống tại thời điểm phân chia, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Ngoài ra, khi xuất hiện người thừa kế mới, việc phân chia di sản theo pháp luật quy định tại Điều 660 có thể bị yêu cầu tạm dừng để xem xét lại. Theo khoản 1 Điều 662, khi có người thừa kế mới, di sản không phân chia lại bằng hiện vật mà những người thừa kế đã nhận phải thanh toán phần tương ứng cho người thừa kế mới. Tuy nhiên, nếu việc phân chia chưa hoàn tất, người thừa kế mới có quyền yêu cầu đưa vào hàng thừa kế trước khi tiếp tục phân chia.
Như vậy, quyền yêu cầu hạn chế phân chia di sản thuộc về chính người để lại di sản thông qua di chúc, và thuộc về những người thừa kế thông qua thỏa thuận hoặc khi có căn cứ pháp lý phát sinh theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định một con số cố định về thời hạn tối đa của việc hạn chế phân chia di sản. Thay vào đó, Điều 661 xác định thời hạn này thông qua hai căn cứ: ý chí của người để lại di sản và giới hạn do luật định đối với từng loại thời hiệu, thời hạn liên quan đến quyền thừa kế.
Theo khoản 1 Điều 661, người lập di chúc có quyền ấn định thời điểm phân chia di sản. Nếu di chúc không xác định thời điểm cụ thể, việc phân chia chỉ được thực hiện khi đã thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ tài sản của người chết theo quy định tại Điều 660. Như vậy, thời hạn hạn chế do người để lại di sản quyết định có thể kéo dài đến một mốc thời gian cụ thể trong tương lai, miễn là mốc đó không trái pháp luật và không xâm phạm nghiêm trọng quyền, lợi ích hợp pháp của những người thừa kế.
Giới hạn pháp lý quan trọng nhất nằm ở quy định về thời hiệu thừa kế. Khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hiệu này, di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Do đó, dù người để lại di sản có ý chí hạn chế phân chia, quyền yêu cầu chia di sản của người thừa kế vẫn bị khống chế bởi thời hiệu nêu trên. Thời hạn hạn chế trên thực tế không thể vượt quá 30 năm đối với bất động sản hoặc 10 năm đối với động sản nếu người thừa kế muốn bảo toàn quyền khởi kiện của mình.
Ví dụ thực tiễn: ông A lập di chúc để lại căn nhà cho hai con nhưng yêu cầu chỉ được bán, chia sau khi người con út tròn 25 tuổi. Thời điểm này cách thời điểm mở thừa kế 20 năm, vẫn nằm trong thời hiệu 30 năm nên yêu cầu của ông A có hiệu lực. Ngược lại, nếu ông A yêu cầu chỉ phân chia sau 40 năm, yêu cầu này vượt quá thời hiệu 30 năm đối với bất động sản; khi đó, quyền yêu cầu chia di sản của các con có thể đã hết thời hiệu, dẫn đến di sản thuộc về người đang quản lý theo khoản 1 Điều 623.
Ngoài ra, Điều 662 còn đặt ra trường hợp hạn chế phát sinh sau khi đã phân chia: nếu có người thừa kế mới xuất hiện, việc phân chia lại không làm mất hiệu lực pháp luật của việc phân chia trước đó, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Quy định này cho thấy thời hạn hạn chế phân chia không chỉ phụ thuộc vào ý chí ban đầu của người để lại di sản mà còn chịu sự điều chỉnh của các quy định về thời hiệu và hiệu lực của việc phân chia đã hoàn thành.
Về nguyên tắc, người để lại di sản có quyền hạn chế phân chia di sản theo ý chí của mình. Tuy nhiên, pháp luật vẫn đặt ra những trường hợp di sản bắt buộc phải được chia, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của những người thừa kế và bảo đảm sự ổn định của quan hệ thừa kế.
Theo quy định tại Điều 661 Bộ luật Dân sự năm 2015, người để lại di sản có quyền chỉ định người phân chia di sản hoặc tự mình quyết định thời điểm phân chia. Tuy nhiên, quyền hạn chế phân chia di sản không phải là tuyệt đối. Trường hợp người để lại di sản không xác định được thời điểm phân chia hoặc thời điểm phân chia đã đến mà những người thừa kế có yêu cầu chia di sản, thì di sản bắt buộc phải được phân chia. Đây là trường hợp phổ biến nhất khiến việc phân chia di sản trở thành nghĩa vụ bắt buộc.
Bên cạnh đó, Điều 662 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc phân chia di sản trong trường hợp có người thừa kế mới. Khi xuất hiện người thừa kế mới sau thời điểm phân chia di sản, những người thừa kế đã nhận di sản có nghĩa vụ thanh toán phần tương ứng với phần di sản mà người thừa kế mới được hưởng. Quy định này đặt ra nghĩa vụ bắt buộc phải điều chỉnh lại việc phân chia di sản, bảo đảm quyền lợi cho người thừa kế mới phát sinh.
Đối với trường hợp phân chia di sản theo pháp luật, Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định di sản được chia đều cho những người thừa kế cùng hàng. Khi không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp, việc phân chia di sản theo pháp luật là bắt buộc và phải tuân thủ nguyên tắc chia đều giữa những người thừa kế cùng hàng thừa kế.
Ví dụ thực tiễn: Ông A qua đời để lại di chúc chỉ định con trai là B quản lý di sản và yêu cầu sau 10 năm mới được chia. Tuy nhiên, người con gái C có hoàn cảnh khó khăn, cần tài sản để trang trải cuộc sống. Trong trường hợp này, nếu C có yêu cầu chia di sản và chứng minh được nhu cầu chính đáng, Tòa án có thể xem xét buộc phân chia di sản trước thời hạn mà ông A đã ấn định, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người thừa kế.
Như vậy, di sản bắt buộc phải chia khi thời điểm phân chia đã đến, khi có người thừa kế mới xuất hiện, hoặc khi việc phân chia theo pháp luật được áp dụng do không có di chúc hợp pháp. Quyền hạn chế phân chia di sản của người để lại di sản phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, không xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người thừa kế.
Quyền hưởng di sản của người thừa kế không phải là quyền tuyệt đối, không bị giới hạn. Khi người để lại di sản lập di chúc có nội dung hạn chế phân chia di sản, quyền của người thừa kế bị tác động trực tiếp ở ba phương diện: thời điểm được nhận di sản, phạm vi quyền đối với di sản và khả năng định đoạt phần di sản được hưởng.
Thứ nhất, về thời điểm hưởng di sản. Theo khoản 1 Điều 661 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp người lập di chúc ấn định thời hạn phân chia di sản thì chỉ khi hết thời hạn đó, di sản mới được đem chia. Người thừa kế không thể yêu cầu chia di sản trước thời hạn, kể cả khi họ có nhu cầu cấp thiết về tài sản. Ví dụ, ông A lập di chúc để lại căn nhà cho hai con nhưng yêu cầu sau 05 năm kể từ ngày ông mất mới được bán và chia tiền. Trong thời hạn này, các con ông A có quyền quản lý, sử dụng nhưng chưa thể định đoạt phần quyền của mình.
Thứ hai, về phạm vi quyền đối với di sản. Khoản 2 Điều 661 quy định khi người để lại di sản yêu cầu chia thừa kế theo hiện vật, người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức phát sinh, nhưng phải thanh toán phần giá trị chênh lệch cho người thừa kế khác nếu giá trị hiện vật vượt quá kỷ phần của mình. Quyền của người thừa kế vì thế bị ràng buộc bởi nghĩa vụ thanh toán, không thể nhận trọn hiện vật mà không bù trừ phần chênh lệch.
Thứ ba, về khả năng định đoạt. Trong thời gian bị hạn chế phân chia, người thừa kế không thể chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp phần di sản chưa được phân chia một cách trọn vẹn, bởi quyền sở hữu đối với phần di sản cụ thể chưa được xác lập đầy đủ. Điều 660 và Điều 662 Bộ luật Dân sự 2015 cho thấy việc phân chia chỉ được thực hiện theo di chúc, theo pháp luật hoặc theo thỏa thuận; khi xuất hiện người thừa kế mới, việc phân chia lại càng phải tuân thủ trình tự chặt chẽ, làm phát sinh thêm nghĩa vụ phối hợp của những người thừa kế hiện hữu.
Như vậy, hạn chế phân chia di sản không tước bỏ quyền thừa kế nhưng làm chậm trễ, thu hẹp và đặt điều kiện đối với việc thực hiện quyền đó. Người thừa kế vẫn được pháp luật bảo vệ quyền lợi chính đáng, song phải tôn trọng ý chí của người để lại di sản trong giới hạn mà pháp luật cho phép.
Tranh chấp phổ biến nhất phát sinh khi một hoặc một số người thừa kế yêu cầu chia di sản ngay, trong khi người để lại di sản đã thể hiện ý chí hạn chế phân chia trong thời hạn nhất định theo Điều 661 Bộ luật Dân sự 2015. Tranh chấp thường xoay quanh ba vấn đề: hiệu lực của ý chí hạn chế phân chia, thời điểm bắt đầu và kết thúc thời hạn hạn chế, và quyền của người thừa kế mới xuất hiện sau thời điểm mở thừa kế.
Về hiệu lực của ý chí hạn chế phân chia, Điều 661 quy định người lập di chúc có quyền chỉ định người phân chia di sản và ấn định cách thức phân chia. Nếu di chúc thể hiện rõ yêu cầu chưa chia di sản trong một thời hạn nhất định, yêu cầu này có hiệu lực ràng buộc các đồng thừa kế. Tòa án sẽ bác yêu cầu chia di sản trước thời hạn nếu không có căn cứ cho thấy việc tiếp tục duy trì khối di sản gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của các bên. Ví dụ: ông A lập di chúc để lại căn nhà cho ba người con nhưng yêu cầu sau khi ông mất năm năm mới được bán chia tiền vì muốn giữ nơi thờ cúng. Người con út khởi kiện đòi chia ngay. Tòa án căn cứ Điều 661 bác yêu cầu, buộc các bên tôn trọng ý chí của người để lại di sản.
Tranh chấp thứ hai liên quan đến người thừa kế mới xuất hiện sau khi di sản đã được phân chia. Khoản 1 Điều 662 quy định không phải phân chia lại di sản bằng hiện vật, nhưng những người thừa kế đã nhận di sản phải thanh toán cho người thừa kế mới một khoản tiền tương ứng với phần di sản của người đó tại thời điểm chia thừa kế theo tỷ lệ tương ứng với phần di sản đã nhận. Ví dụ: sau khi ba anh em đã chia xong thửa đất thừa kế, xuất hiện người con riêng của cha được xác định là người thừa kế theo pháp luật. Thay vì hủy toàn bộ việc phân chia, các bên phải thanh toán giá trị tương ứng phần của người con riêng này theo quy định tại Điều 662.
Khi không có di chúc hoặc di chúc không thể hiện ý chí hạn chế phân chia, việc phân chia thực hiện theo Điều 660. Tranh chấp thường tập trung vào việc xác định kỷ phần, giá trị tài sản tại thời điểm chia và phương thức chia bằng hiện vật hay bằng giá trị. Tòa án ưu tiên thỏa thuận của các đồng thừa kế; nếu không thỏa thuận được, di sản được chia bằng hiện vật, trường hợp không thể chia đều bằng hiện vật thì người nhận hiện vật phải thanh toán chênh lệch giá trị cho người khác.
Hướng xử lý chung: tôn trọng tối đa ý chí của người để lại di sản theo Điều 661; áp dụng cơ chế thanh toán giá trị thay vì chia lại hiện vật theo Điều 662 khi có người thừa kế mới; và tuân thủ nguyên tắc thỏa thuận, bình đẳng giữa các đồng thừa kế theo Điều 660 khi phân chia theo pháp luật.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.