Điều 123. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu. Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Theo khoản 1 Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu. Điều cấm của luật được hiểu là những quy định bắt buộc mà chủ thể không được làm, không được thực hiện, nếu thực hiện sẽ bị coi là vi phạm pháp luật. Ví dụ, pháp luật cấm mua bán ma túy, cấm mua bán người, cấm vận chuyển hàng cấm; do đó, các giao dịch có đối tượng là ma túy, người hoặc hàng cấm đều bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng, phản ánh các giá trị truyền thống, thuần phong mỹ tục, lẽ công bằng và lương tâm xã hội. Giao dịch trái đạo đức xã hội là giao dịch có mục đích, nội dung đi ngược lại những giá trị đạo đức chung đó. Ví dụ, giao dịch hứa hẹn trả tiền để yêu cầu một người từ bỏ quyền nuôi con nhằm trục lợi, hoặc giao dịch mua bán chức vụ, quyền lợi công vụ để hưởng lợi bất chính đều bị coi là trái đạo đức xã hội và vô hiệu.
Điều 123 Bộ luật Dân sự 2015 quy định rõ: “Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu. Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.” Như vậy, hai căn cứ này có tính độc lập tương đối: giao dịch có thể chỉ vi phạm điều cấm của luật mà không trái đạo đức xã hội, hoặc ngược lại. Khi giao dịch vi phạm một trong hai căn cứ trên, giao dịch đó bị vô hiệu theo Điều 122 và phát sinh hậu quả pháp lý theo Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015.
Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu. Đây là trường hợp vô hiệu tuyệt đối, đương nhiên phát sinh hậu quả pháp lý ngay từ thời điểm xác lập mà không phụ thuộc vào yêu cầu của đương sự.
Điều kiện thứ nhất: giao dịch có mục đích hoặc nội dung vi phạm điều cấm của luật. Điều cấm của luật là những quy định không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Ví dụ, hợp đồng mua bán ma túy, hợp đồng thuê người đòi nợ bằng vũ lực, hợp đồng mua bán người đều có nội dung vi phạm điều cấm của Bộ luật Hình sự nên đương nhiên vô hiệu theo Điều 123.
Điều kiện thứ hai: giao dịch trái đạo đức xã hội. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống cộng đồng, được thừa nhận và tôn trọng rộng rãi. Ví dụ, hợp đồng chung sống như vợ chồng có trả tiền, hợp đồng hứa hẹn ly hôn để nhận thù lao, giao dịch tặng cho tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng đều bị coi là trái đạo đức xã hội và vô hiệu.
Cần phân biệt với Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2015. Điều 122 quy định giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện có hiệu lệu quy định tại Điều 117 thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác. Trong khi đó, Điều 123 là trường hợp vô hiệu đặc thù, không cần xem xét các điều kiện có hiệu lực thông thường vì bản chất nội dung giao dịch đã xâm phạm trật tự công, lợi ích chung của xã hội.
Hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu theo Điều 123 được xử lý theo Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015: giao dịch không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự từ thời điểm xác lập; các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Đối với giao dịch vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, tài sản giao dịch và hoa lợi, lợi tức thu được có thể bị tịch thu theo quy định của pháp luật.
Trong thực tiễn xét xử và giải quyết tranh chấp, giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội theo Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015 thường xuất hiện dưới một số dạng điển hình sau đây.
Thứ nhất, giao dịch có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật. Đây là trường hợp các bên xác lập giao dịch mà nội dung hoặc mục đích của giao dịch trực tiếp xâm phạm đến quy định cấm của pháp luật. Ví dụ: hợp đồng mua bán ma túy, vũ khí quân dụng trái phép; hợp đồng mua bán người; hợp đồng thuê người đòi nợ thuê có sử dụng vũ lực; hợp đồng chuyển nhượng đất không thuộc trường hợp được chuyển nhượng theo quy định của Luật Đất đai. Các giao dịch này đều bị vô hiệu tuyệt đối do xâm phạm trật tự công, lợi ích công cộng.
Thứ hai, giao dịch trái đạo đức xã hội. Đạo đức xã hội được hiểu là những chuẩn mực ứng xử chung được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Giao dịch trái đạo đức xã hội thường gặp như: thỏa thuận chung sống như vợ chồng có trả tiền giữa người đang có vợ, có chồng hợp pháp với người khác; hợp đồng tặng cho tài sản kèm điều kiện buộc người được tặng cho phải ly hôn; thỏa thuận hứa hôn có điều kiện bồi thường bằng tiền nếu hủy hôn; giao dịch mua bán chức vụ, danh hiệu, bằng cấp. Những giao dịch này tuy có thể không vi phạm trực tiếp một điều cấm cụ thể nhưng lại đi ngược lại thuần phong mỹ tục, đạo lý xã hội nên bị coi là vô hiệu.
Thứ ba, giao dịch có mục đích che giấu một giao dịch khác vi phạm điều cấm hoặc trái đạo đức xã hội. Ví dụ, các bên ký hợp đồng tặng cho tài sản nhưng thực chất là để che giấu việc mua bán tài sản bị pháp luật cấm giao dịch; hoặc ký hợp đồng hợp tác kinh doanh nhưng bản chất là hợp đồng vay tiền với lãi suất vượt quá mức quy định nhằm trốn tránh quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, giao dịch giả tạo bị vô hiệu theo Điều 124 Bộ luật Dân sự, còn giao dịch bị che giấu nếu vi phạm điều cấm hoặc trái đạo đức xã hội thì cũng bị vô hiệu theo Điều 123.
Khi giao dịch bị tuyên vô hiệu theo Điều 123, hậu quả pháp lý được xử lý theo Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015: các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Đối với giao dịch vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội, nếu có lỗi của các bên thì hoa lợi, lợi tức thu được có thể bị tịch thu sung công quỹ nhà nước tùy theo tính chất, mức độ vi phạm.
Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội theo Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015 không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập. Hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu được xử lý theo nguyên tắc chung tại Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Thứ nhất, các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Nếu không thể hoàn trả bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả. Ví dụ, hợp đồng mua bán hàng hóa thuộc danh mục cấm kinh doanh bị tuyên vô hiệu, bên bán phải trả lại tiền đã nhận, bên mua phải trả lại hàng hóa nếu còn tồn tại.
Thứ hai, bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó. Quy định này bảo vệ quyền lợi của bên không biết hoặc không buộc phải biết giao dịch vi phạm điều cấm, trái đạo đức xã hội.
Thứ ba, bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Việc xác định lỗi căn cứ vào nhận thức của mỗi bên về tính trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội của giao dịch. Trong nhiều trường hợp cả hai bên đều có lỗi, mỗi bên tự chịu phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình.
Thứ tư, đối với giao dịch vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội, tài sản giao dịch và hoa lợi, lợi tức thu được có thể bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Ví dụ, tiền dùng để đánh bạc, mua bán ma túy hoặc tài sản có được từ hành vi cho vay nặng lãi trái pháp luật có thể bị tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Như vậy, hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu do vi phạm điều cấm, trái đạo đức xã hội không chỉ dừng ở việc vô hiệu toàn bộ giao dịch mà còn bao gồm các biện pháp khôi phục, bồi thường và chế tài tịch thu nhằm bảo vệ lợi ích công cộng, trật tự pháp luật và đạo đức xã hội.
Khác với giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị nhầm lẫn, bị lừa dối, đe dọa xác lập — nơi quyền yêu cầu tuyên bố vô hiệu thuộc về chính chủ thể bị xâm phạm hoặc người đại diện của họ — đối với giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội theo Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015, pháp luật không giới hạn chủ thể có quyền yêu cầu. Bất kỳ cá nhân, pháp nhân nào có quyền, lợi ích liên quan đều có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu, không nhất thiết phải là một bên tham gia giao dịch.
Cơ sở pháp lý cho cách hiểu này nằm ở bản chất của loại giao dịch bị cấm. Khi một giao dịch vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội, đối tượng bị xâm hại không chỉ là quyền lợi riêng tư của các bên mà còn là trật tự công, lợi ích chung của Nhà nước và xã hội. Điều 123 quy định giao dịch có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu. Tính vô hiệu ở đây mang tính đương nhiên, không phụ thuộc vào ý chí của các bên. Do đó, quyền yêu cầu Tòa án xác nhận sự vô hiệu này cần được trao cho phạm vi chủ thể rộng, bao gồm cả cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong một số trường hợp luật chuyên ngành quy định.
Ví dụ thực tiễn: A và B ký hợp đồng mua bán ma túy, hoặc hợp đồng mua bán người, hoặc thỏa thuận chia lợi nhuận từ hoạt động đánh bạc trái phép. Người thứ ba là C — chủ nợ của A — phát hiện A dùng tài sản chung để thanh toán cho giao dịch bất hợp pháp này, làm giảm khả năng trả nợ của A. C hoàn toàn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch giữa A và B vô hiệu, mặc dù C không phải là bên ký kết. Tương tự, Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát có thể yêu cầu Tòa án xem xét tính vô hiệu của giao dịch vi phạm điều cấm khi phát hiện qua hoạt động tố tụng.
Khi Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu theo Điều 123, hậu quả pháp lý được xử lý theo Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015: các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Đối với giao dịch vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, hoa lợi, lợi tức thu được có thể bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Điều này cho thấy hậu quả không chỉ dừng ở quan hệ giữa các bên mà còn mang tính trừng phạt, răn đe vì lợi ích công.
Tóm lại, quyền yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thuộc về mọi chủ thể có quyền, lợi ích liên quan, không giới hạn ở các bên tham gia giao dịch. Đây là điểm khác biệt quan trọng so với các trường hợp vô hiệu khác được quy định tại Điều 122 và các điều từ Điều 125 đến Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Khi giao kết hợp đồng, các bên cần đặc biệt lưu ý đến ranh giới giữa quyền tự do thỏa thuận và giới hạn mà pháp luật đặt ra. Khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015 ghi nhận nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận, nhưng đồng thời khẳng định mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội mới có hiệu lực thực hiện. Đây chính là nền tảng dẫn chiếu đến Điều 123 của Bộ luật này.
Thứ nhất, cần rà soát đối tượng và mục đích của hợp đồng. Điều 123 xác định giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội thì vô hiệu. Điều cấm của luật là những quy định không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Ví dụ, hợp đồng mua bán chất ma túy, hợp đồng thuê người gây thương tích cho người khác, hay hợp đồng mua bán hóa đơn giá trị gia tăng đều có đối tượng hoặc mục đích bị pháp luật nghiêm cấm. Hợp đồng trái đạo đức xã hội là hợp đồng đi ngược lại những chuẩn mực ứng xử chung được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng, chẳng hạn thỏa thuận hạn chế quyền kết hôn của người khác để đổi lấy lợi ích vật chất.
Thứ hai, cần lường trước hậu quả pháp lý nếu hợp đồng bị tuyên vô hiệu. Theo Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập. Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Điều đáng lưu ý là hoa lợi, lợi tức thu được từ giao dịch vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội sẽ bị tịch thu sung công quỹ nhà nước. Ví dụ, bên cho vay với lãi suất vượt quá mức quy định của Bộ luật Dân sự không chỉ mất phần lãi vượt quá mà còn có thể bị xử lý theo quy định pháp luật có liên quan.
Thứ ba, cần kiểm tra tính hợp pháp của nội dung thỏa thuận ngay từ giai đoạn đàm phán. Việc xác định một điều khoản có vi phạm điều cấm hay trái đạo đức xã hội không chỉ dựa trên văn bản luật mà còn phải đối chiếu với các văn bản hướng dẫn thi hành và thực tiễn xét xử. Do đó, đối với những hợp đồng có giá trị lớn hoặc có yếu tố phức tạp, các bên nên tham vấn ý kiến pháp lý chuyên sâu trước khi ký kết nhằm tránh rủi ro hợp đồng bị tuyên vô hiệu toàn bộ, dẫn đến mất toàn bộ quyền lợi đã đầu tư.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.