Điều 645. Di sản dùng vào việc thờ cúng 1. Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng. Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng. Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật. 2. Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Di sản dùng vào việc thờ cúng là một bộ phận tài sản trong di sản thừa kế của người chết để lại, được dành riêng nhằm phục vụ cho việc thờ cúng người đã khuất và tổ tiên theo phong tục, tập quán của gia đình, dòng họ. Đây là chế định đặc thù của pháp luật dân sự Việt Nam, thể hiện sự tôn trọng đối với truyền thống văn hóa, đạo lý "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc.
Theo quy định tại Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015, người lập di chúc có quyền dành một phần tài sản trong khối di sản để dùng vào việc thờ cúng. Phần di sản này không được chia thừa kế và được giao cho một người quản lý để thực hiện việc thờ cúng theo đúng ý nguyện của người đã khuất. Trường hợp người lập di chúc không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế có quyền cử một người quản lý. Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.
Về bản chất, di sản dùng vào việc thờ cúng được xác lập dựa trên ý chí của người lập di chúc, được thể hiện trong di chúc hợp pháp theo quy định tại Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015. Người quản lý di sản thờ cúng có quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 616 Bộ luật Dân sự 2015 về người quản lý di sản, bao gồm việc bảo quản, giữ gìn tài sản và sử dụng tài sản đúng mục đích thờ cúng.
Ví dụ thực tiễn: Ông A lập di chúc để lại căn nhà thờ họ cùng một khoản tiền 200 triệu đồng gửi ngân hàng, chỉ định con trai trưởng là anh B quản lý để lo hương khói, giỗ chạp cho ông bà, tổ tiên. Căn nhà và khoản tiền này không được chia cho các đồng thừa kế mà chỉ được dùng vào mục đích thờ cúng. Anh B có trách nhiệm quản lý, bảo quản tài sản, sử dụng tiền lãi phát sinh để chi trả chi phí thờ cúng, không được tự ý bán, tặng cho hay chuyển nhượng phần di sản này.
Di sản dùng vào việc thờ cúng được xác lập theo di chúc khi người lập di chúc định đoạt một phần tài sản của mình để dành riêng cho việc thờ cúng sau khi người đó chết. Theo Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng.
Việc xác lập di sản thờ cúng phải xuất phát từ ý chí tự nguyện của người lập di chúc, thể hiện trong một di chúc hợp pháp theo quy định tại Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015. Di chúc phải đáp ứng đầy đủ điều kiện về chủ thể, hình thức và nội dung theo quy định của pháp luật. Người lập di chúc có quyền chỉ định người quản lý di sản thờ cúng; nếu không chỉ định thì những người thừa kế cử một người quản lý theo quy định tại Điều 616 Bộ luật Dân sự 2015.
Ví dụ thực tiễn: ông A lập di chúc hợp pháp, trong đó ghi rõ căn nhà thờ họ và 200 triệu đồng tiền gửi ngân hàng được dùng vào việc thờ cúng tổ tiên, giao cho con trai trưởng là anh B quản lý. Sau khi ông A chết, căn nhà thờ và số tiền trên không thuộc diện chia thừa kế mà được giao cho anh B quản lý, sử dụng đúng mục đích thờ cúng. Trường hợp anh B không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản thờ cúng cho người khác quản lý.
Như vậy, di sản thờ cúng chỉ được xác lập khi có di chúc hợp pháp của người để lại di sản, thể hiện rõ ý chí dành tài sản cho mục đích thờ cúng và chỉ định hoặc để người thừa kế cử người quản lý theo đúng quy định của Bộ luật Dân sự 2015.
Việc xác định người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng phải căn cứ trước hết vào ý chí của người lập di chúc, sau đó mới áp dụng quy định chung về người quản lý di sản theo pháp luật.
Theo khoản 1 Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng. Như vậy, người quản lý di sản thờ cúng trước tiên là người được người lập di chúc chỉ định. Sự chỉ định này có giá trị bắt buộc đối với những người thừa kế và các chủ thể có liên quan, trừ trường hợp người được chỉ định không có khả năng thực hiện hoặc từ chối quản lý.
Trường hợp người lập di chúc không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng, hoặc người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc, những người thừa kế có quyền thỏa thuận cử người quản lý phần di sản này. Căn cứ khoản 2 Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015, nếu tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng vào việc thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật. Quy định này cho thấy pháp luật ưu tiên duy trì tính liên tục của việc quản lý, tránh tình trạng di sản thờ cúng bị bỏ ngỏ.
Về quyền và nghĩa vụ của người quản lý, Điều 616 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người quản lý di sản có nghĩa vụ bảo quản di sản, không được tự ý định đoạt tài sản, đồng thời có quyền được thanh toán chi phí hợp lý cho việc bảo quản. Đối với di sản thờ cúng, người quản lý phải sử dụng tài sản đúng mục đích thờ cúng, không được bán, tặng cho, thế chấp hoặc chuyển nhượng trừ trường hợp có thỏa thuận khác phù hợp với quy định pháp luật.
Ví dụ thực tiễn: ông A lập di chúc để lại căn nhà thờ và giao cho con trai trưởng là B quản lý, dùng vào việc thờ cúng tổ tiên. Khi ông A mất, B là người quản lý hợp pháp căn nhà này. Nếu B muốn bán nhà, B phải được sự đồng ý của tất cả những người thừa kế khác và chỉ được bán khi việc thờ cúng vẫn được bảo đảm theo thỏa thuận chung. Trường hợp B từ chối quản lý, những người thừa kế có quyền họp bàn cử người khác thay thế.
Di sản thờ cúng về nguyên tắc không được chia thừa kế. Căn cứ khoản 1 Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế. Phần di sản này được giao cho một người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng theo đúng ý chí của người để lại di sản.
Như vậy, điều kiện để một tài sản trở thành di sản thờ cúng là phải được người để lại di sản định đoạt bằng di chúc theo Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015. Nếu người chết không để lại di chúc hoặc di chúc không chỉ định tài sản dùng vào việc thờ cúng, thì toàn bộ di sản được chia theo pháp luật, không đương nhiên phát sinh phần di sản thờ cúng.
Ví dụ: Ông A lập di chúc để lại căn nhà trên diện tích đất 200m² cho con trai trưởng là anh B quản lý, dùng làm nơi thờ cúng tổ tiên, không được bán, tặng cho. Căn nhà này là di sản thờ cúng, không thuộc khối di sản chia thừa kế. Các đồng thừa kế khác của ông A không có quyền yêu cầu chia căn nhà này.
Người quản lý di sản thờ cúng có quyền, nghĩa vụ theo Điều 616 Bộ luật Dân sự 2015: quản lý, bảo quản di sản, không được tự ý định đoạt trái với nội dung di chúc. Trường hợp người quản lý không thực hiện đúng di chúc, những người thừa kế có quyền yêu cầu thay thế người quản lý theo quy định.
Trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người chết thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng theo khoản 2 Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015.
Trong trường hợp người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng không thực hiện đúng nghĩa vụ, các đồng thừa kế hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu xử lý theo quy định pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 616 Bộ luật Dân sự 2015, người quản lý di sản có nghĩa vụ bảo quản di sản, không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng các hình thức khác nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản. Đối với di sản dùng vào việc thờ cúng theo Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015, người quản lý chỉ được quản lý, sử dụng tài sản đúng mục đích thờ cúng đã được xác định theo di chúc hoặc theo thỏa thuận của những người thừa kế.
Hành vi vi phạm có thể biểu hiện dưới nhiều dạng như tự ý bán, chuyển nhượng, thế chấp nhà thờ, đất hương hỏa; sử dụng tài sản thờ cúng vào mục đích kinh doanh, trục lợi cá nhân; không bảo quản, để tài sản hư hỏng, xuống cấp; hoặc cản trở việc thờ cúng của các thành viên trong gia đình, dòng họ. Ví dụ, ông A được chỉ định quản lý căn nhà thờ tổ theo di chúc, nhưng sau đó tự ý cho thuê mặt bằng để lấy tiền chi tiêu cá nhân. Hành vi này xâm phạm trực tiếp mục đích thờ cúng và quyền lợi của các đồng thừa kế.
Về hậu quả pháp lý, người quản lý vi phạm phải bồi thường thiệt hại theo khoản 3 Điều 616 Bộ luật Dân sự 2015. Trường hợp vi phạm nghiêm trọng, các đồng thừa kế có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án thay đổi người quản lý, buộc chấm dứt hành vi vi phạm, khôi phục lại tình trạng ban đầu của tài sản và giao di sản cho người quản lý mới. Nếu di sản được định đoạt theo di chúc tại Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015, việc thay đổi người quản lý phải tôn trọng ý chí của người lập di chúc; trường hợp người quản lý theo di chúc không còn khả năng hoặc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ, Tòa án có thể chỉ định người quản lý khác trên cơ sở thỏa thuận của các đồng thừa kế hoặc theo quy định pháp luật.
Như vậy, pháp luật bảo vệ tính bền vững của di sản thờ cúng thông qua cơ chế giám sát và chế tài đối với người quản lý, bảo đảm tài sản được sử dụng đúng mục đích tâm linh, truyền thống của gia đình, dòng họ.
Trong thực tiễn, tranh chấp về di sản dùng vào việc thờ cúng thường phát sinh ở ba dạng chủ yếu. Thứ nhất, người quản lý di sản thờ cúng tự ý định đoạt tài sản như bán, tặng cho, thế chấp nhà thờ, đất hương hỏa mà không được sự đồng thuận của những người thừa kế khác. Thứ hai, các đồng thừa kế yêu cầu chia di sản thờ cúng theo quy định thừa kế thông thường, dẫn đến mâu thuẫn với ý chí của người lập di chúc. Thứ ba, tranh chấp về tư cách người quản lý khi người được chỉ định không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ hoặc cố ý vi phạm nghĩa vụ quản lý.
Theo Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng. Như vậy, yêu cầu chia di sản thờ cúng của các đồng thừa kế là không có căn cứ pháp luật, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người chết theo quy định tại khoản 2 Điều 645. Ví dụ, ông A lập di chúc để lại căn nhà làm nơi thờ cúng tổ tiên và giao cho con trai trưởng quản lý; các con khác khởi kiện yêu cầu chia căn nhà. Tòa án sẽ bác yêu cầu này vì căn nhà thuộc diện không chia thừa kế theo Điều 645, đồng thời tôn trọng ý chí của ông A theo Điều 624 về quyền lập di chúc định đoạt tài sản.
Đối với hành vi tự ý định đoạt tài sản thờ cúng, người quản lý phải chịu trách nhiệm theo Điều 616 Bộ luật Dân sự 2015. Người quản lý di sản chỉ được thực hiện các quyền, nghĩa vụ trong phạm vi quy định; việc bán, tặng cho tài sản thờ cúng vượt quá phạm vi quản lý là hành vi vi phạm nghĩa vụ. Những người thừa kế có quyền yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu và buộc người quản lý bồi thường thiệt hại. Trường hợp người quản lý không thực hiện đúng nghĩa vụ thờ cúng hoặc không còn khả năng quản lý, các đồng thừa kế có quyền thỏa thuận cử người khác quản lý; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết trên cơ sở bảo đảm mục đích thờ cúng và lợi ích chung của dòng họ.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.