Điều 9 BLHS 2015: Phân loại tội phạm | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 9 BLHS 2015: Phân loại tội phạm

Hình sự · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Nội dung Điều 9 BLHS 2015
  2. Tiêu chí phân loại tội phạm
  3. Tội phạm ít nghiêm trọng
  4. Tội phạm nghiêm trọng
  5. Tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng
  6. Ý nghĩa của việc phân loại tội phạm

Điều 9. Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật Tố tụng hình sự được tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật. Mọi pháp nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Nội dung Điều 9 BLHS 2015

Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định căn cứ phân loại tội phạm dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đồng thời xác định mức cao nhất của khung hình phạt đối với mỗi loại tội phạm. Theo đó, tội phạm được phân thành bốn loại:

  • Tội phạm ít nghiêm trọng: là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn, mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm.
  • Tội phạm nghiêm trọng: là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, mức cao nhất của khung hình phạt là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù.
  • Tội phạm rất nghiêm trọng: là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn, mức cao nhất của khung hình phạt là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù.
  • Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng: là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn, mức cao nhất của khung hình phạt là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Việc phân loại tội phạm có ý nghĩa pháp lý quan trọng trong nhiều chế định của Bộ luật Hình sự. Ví dụ, theo Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một số điều cụ thể; người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác. Như vậy, loại tội phạm là căn cứ xác định phạm vi chịu trách nhiệm hình sự theo độ tuổi.

Trong thực tiễn xét xử, việc xác định đúng loại tội phạm còn ảnh hưởng trực tiếp đến thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử và chính sách xử lý đối với người phạm tội. Chẳng hạn, hành vi trộm cắp tài sản trị giá dưới 50 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt đến 03 năm tù, là tội phạm ít nghiêm trọng; nhưng nếu tài sản trị giá từ 200 triệu đồng trở lên thuộc khoản 3 Điều 173 với khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm tù thì là tội phạm rất nghiêm trọng. Sự khác biệt này kéo theo hậu quả pháp lý khác nhau về tuổi chịu trách nhiệm hình sự và thời hiệu truy cứu.

Điều 9 cần được đọc trong mối liên hệ với Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015 về khái niệm tội phạm. Điều 8 xác định tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt; Điều 9 cụ thể hóa mức độ nguy hiểm đó thành bốn cấp độ để áp dụng thống nhất pháp luật.

2. Tiêu chí phân loại tội phạm

Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xác định tiêu chí phân loại tội phạm dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, được lượng hóa thông qua mức cao nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định đối với tội ấy. Đây là tiêu chí pháp lý duy nhất, thống nhất, thay thế cho việc đánh giá chủ quan, cảm tính về mức độ nghiêm trọng của từng vụ án cụ thể.

Trên cơ sở đó, khoản 1 Điều 9 chia tội phạm thành bốn loại: tội phạm ít nghiêm trọng (mức cao nhất của khung hình phạt là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm); tội phạm nghiêm trọng (mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 03 năm đến 07 năm tù); tội phạm rất nghiêm trọng (mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 07 năm đến 15 năm tù); và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (mức cao nhất của khung hình phạt từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình).

Việc phân loại này có ý nghĩa pháp lý quan trọng, chi phối nhiều chế định khác của Bộ luật Hình sự. Ví dụ, theo Điều 12, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thuộc một số tội danh được liệt kê; người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi loại tội phạm. Tương tự, việc xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam, thẩm quyền xét xử của các cấp Tòa án hay điều kiện hưởng án treo đều phụ thuộc trực tiếp vào loại tội phạm theo phân loại tại Điều 9.

Ví dụ thực tiễn: hành vi trộm cắp tài sản trị giá 03 triệu đồng thuộc khoản 1 Điều 173, có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, là tội phạm ít nghiêm trọng. Nếu tài sản trộm cắp trị giá 100 triệu đồng, thuộc khoản 2 Điều 173 với khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm, là tội phạm nghiêm trọng. Như vậy, cùng một tội danh nhưng tùy thuộc vào khung hình phạt áp dụng mà loại tội phạm được xác định khác nhau.

3. Tội phạm ít nghiêm trọng

Tội phạm ít nghiêm trọng là loại tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn, được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Theo đó, tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm.

Việc phân loại này căn cứ vào khái niệm tội phạm tại Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015, theo đó tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm ít nghiêm trọng là thấp nhất trong bốn loại tội phạm, thể hiện ở mức hình phạt tối đa mà khung hình phạt quy định không vượt quá 03 năm tù.

Ví dụ thực tiễn: Tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Trường hợp người phạm tội trộm cắp tài sản trị giá dưới 50 triệu đồng và không thuộc các tình tiết định khung tăng nặng thì bị xét xử theo khoản 1 Điều 173, thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng. Tương tự, tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 134 có khung hình phạt phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm cũng là tội phạm ít nghiêm trọng.

Ý nghĩa pháp lý của việc xác định tội phạm ít nghiêm trọng thể hiện rõ trong quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo khoản 2 Điều 12, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một số điều luật cụ thể; do đó người ở độ tuổi này không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm ít nghiêm trọng. Việc phân loại còn ảnh hưởng đến thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thẩm quyền xét xử và chính sách xử lý hình sự đối với người phạm tội.

4. Tội phạm nghiêm trọng

Tội phạm nghiêm trọng là loại tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đây là một trong bốn loại tội phạm được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, bên cạnh tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Việc xác định một tội phạm là nghiêm trọng không dựa vào mức hình phạt cụ thể mà Tòa án tuyên đối với bị cáo, mà dựa vào mức cao nhất của khung hình phạt được quy định tại điều luật tương ứng trong Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự. Ví dụ, tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 có khung hình phạt phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, nên thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng; trong khi tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm, mức cao nhất là 07 năm tù, nên thuộc loại tội phạm nghiêm trọng.

Việc phân loại tội phạm nghiêm trọng có ý nghĩa pháp lý quan trọng trong nhiều lĩnh vực. Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, theo khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một số điều luật cụ thể, do đó người ở độ tuổi này không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm nghiêm trọng. Về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, tội phạm nghiêm trọng có thời hiệu là 10 năm theo điểm b khoản 2 Điều 27 Bộ luật Hình sự. Về thẩm quyền xét xử, tội phạm nghiêm trọng thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tóm lại, việc xác định đúng loại tội phạm nghiêm trọng là cơ sở để áp dụng chính xác các quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thời hiệu truy cứu, thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử và nhiều chế định pháp lý khác trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

5. Tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng

Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù (khoản 3 Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017).

Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình (khoản 4 Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017).

Việc phân loại này dựa trên khái niệm tội phạm tại Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015: tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý. Mức cao nhất của khung hình phạt là căn cứ pháp lý duy nhất để xác định loại tội phạm, không phụ thuộc vào mức hình phạt cụ thể mà Tòa án tuyên đối với bị cáo.

Ví dụ thực tiễn: Tội giết người quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình, thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tội cướp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 168 có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 10 năm, thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng.

Phân loại tội phạm có ý nghĩa pháp lý quan trọng trong việc xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi loại tội phạm. Ngoài ra, phân loại tội phạm còn ảnh hưởng đến việc xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử và áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự.

6. Ý nghĩa của việc phân loại tội phạm

Việc phân loại tội phạm theo Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) có ý nghĩa nền tảng đối với toàn bộ quá trình áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tội phạm được chia thành bốn loại: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Sự phân loại này không chỉ mang tính lý luận mà còn là cơ sở pháp lý trực tiếp cho nhiều chế định quan trọng.

Thứ nhất, phân loại tội phạm là căn cứ để xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thuộc một số tội danh được liệt kê; người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Như vậy, nếu không xác định đúng loại tội phạm theo Điều 9 thì không thể xác định chính xác phạm vi trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên.

Thứ hai, phân loại tội phạm quyết định thẩm quyền xét xử và trình tự tố tụng. Ví dụ, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh được phân định căn cứ vào loại tội phạm; thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam, thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn cũng khác nhau tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Thứ ba, phân loại tội phạm là cơ sở để áp dụng các chế định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thời hiệu thi hành bản án, điều kiện hưởng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn chấp hành hình phạt và nhiều quy định nhân đạo khác. Chẳng hạn, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm ít nghiêm trọng là 05 năm, trong khi đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là 20 năm.

Như vậy, phân loại tội phạm theo Điều 9 là công cụ pháp lý bảo đảm sự thống nhất, chính xác và công bằng trong áp dụng pháp luật hình sự, đồng thời thể hiện nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) - Điều 9 về phân loại tội phạm
  • Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) - Điều 8 về khái niệm tội phạm
  • Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) - Điều 12 về tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp