Điều 88 và 89 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: Xác định cha, mẹ, con | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 88 và 89 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014: Xác định cha, mẹ, con

Hôn nhân & Gia đình · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Nội dung Điều 88 và 89 Luật HNGĐ 2014
  2. Xác định cha, mẹ trong hôn nhân
  3. Xác định cha, mẹ ngoài hôn nhân
  4. Xác định con trong hôn nhân
  5. Thủ tục nhận cha, mẹ, con
  6. Lưu ý về xác định cha mẹ trong trường hợp hỗ trợ sinh sản

Điều 88. Xác định cha, mẹ 1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng. 2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Nội dung Điều 88 và 89 Luật HNGĐ 2014

Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định nguyên tắc xác định cha, mẹ đối với con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân. Theo khoản 1 Điều 88, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân được xác định là con chung của vợ chồng. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng được coi là con chung của vợ chồng. Khoản 2 Điều 88 quy định rõ: trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định. Đây là nguyên tắc suy đoán pháp lý về quan hệ cha, mẹ, con nhằm bảo vệ quyền lợi của trẻ em, bảo đảm sự ổn định của quan hệ gia đình.

Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về việc xác định con. Theo đó, người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình. Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình. Quy định này tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các tranh chấp về quan hệ cha, mẹ, con, đặc biệt trong các vụ việc ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng.

Ví dụ thực tiễn: vợ chồng anh A, chị B kết hôn năm 2020. Năm 2022, chị B sinh con là cháu C. Theo khoản 1 Điều 88, cháu C đương nhiên được xác định là con chung của anh A và chị B mà không cần thực hiện thủ tục nhận cha, con. Trường hợp anh A có căn cứ cho rằng cháu C không phải con mình, anh A có quyền yêu cầu Tòa án xác định theo khoản 2 Điều 89. Tòa án sẽ xem xét chứng cứ, có thể trưng cầu giám định ADN để làm căn cứ xác định quan hệ cha, con.

Đối với trường hợp hỗ trợ sinh sản, Điều 93 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định: con sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong thời kỳ hôn nhân được xác định là con chung của vợ chồng, kể cả trường hợp người vợ sinh con bằng noãn của người khác hoặc người chồng không phải là người có tinh trùng được sử dụng. Quy định này bảo đảm quyền lợi của trẻ em sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, đồng thời xác lập trách nhiệm pháp lý của cha, mẹ đối với con.

2. Xác định cha, mẹ trong hôn nhân

Trong quan hệ hôn nhân hợp pháp, việc xác định cha, mẹ cho con được pháp luật quy định theo nguyên tắc suy đoán pháp lý về huyết thống, nhằm bảo đảm quyền lợi của trẻ em và sự ổn định của quan hệ gia đình. Khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.” Theo đó, người chồng được xác định là cha và người vợ được xác định là mẹ của đứa trẻ mà không cần thực hiện bất kỳ thủ tục chứng minh huyết thống nào.

Thời kỳ hôn nhân được hiểu là khoảng thời gian kể từ khi đăng ký kết hôn đến khi quan hệ hôn nhân chấm dứt do ly hôn hoặc một bên vợ, chồng chết. Ví dụ, vợ chồng anh A và chị B kết hôn tháng 01 năm 2024, chị B sinh con vào tháng 10 năm 2024. Đứa trẻ này đương nhiên được xác định là con chung của anh A và chị B, dù không có xét nghiệm ADN. Tương tự, nếu chị B có thai trước khi ly hôn nhưng sinh con sau khi ly hôn, đứa trẻ vẫn được xác định là con chung của hai người.

Khoản 2 Điều 88 cũng quy định: “Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.” Trường hợp này áp dụng khi con được sinh ra trước thời điểm đăng ký kết hôn nhưng cả hai bên tự nguyện thừa nhận đó là con chung. Việc thừa nhận có thể được thể hiện bằng văn bản hoặc hành vi thực tế như cùng chăm sóc, nuôi dưỡng, khai sinh cho con.

Đối với trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, Điều 93 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xác định: người vợ và người chồng thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là cha, mẹ của con được sinh ra, kể cả khi sử dụng tinh trùng hoặc noãn của người hiến tặng. Quy định này bảo đảm quyền làm cha, mẹ của cặp vợ chồng hiếm muộn và bảo vệ lợi ích tốt nhất của đứa trẻ.

Nguyên tắc suy đoán pháp lý tại Điều 88 không phải là tuyệt đối. Khoản 2 Điều 89 cho phép người không được xác định là cha, mẹ có quyền yêu cầu Tòa án xác định con. Trong thời hạn 05 năm kể từ ngày biết được việc xác định cha, mẹ, con không đúng sự thật, người có quyền lợi liên quan có thể khởi kiện yêu cầu xác định lại quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại Điều 101 và Điều 102 của Luật này.

3. Xác định cha, mẹ ngoài hôn nhân

Việc xác định cha, mẹ cho con sinh ra ngoài hôn nhân được pháp luật Việt Nam ghi nhận nhằm bảo đảm quyền nhân thân và quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng của trẻ em, không phân biệt con sinh ra trong hay ngoài giá thú. Theo khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân được xác định là con chung của vợ chồng. Ngược lại, khi đứa trẻ được sinh ra mà cha, mẹ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp, việc xác định cha, mẹ phải thực hiện theo cơ chế tự nguyện hoặc theo thủ tục tư pháp.

Khoản 2 Điều 88 quy định: “Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.” Đây là trường hợp cha, mẹ có con trước khi kết hôn nhưng sau đó đăng ký kết hôn và thừa nhận đứa trẻ là con chung; khi đó quan hệ cha, mẹ, con được xác lập đầy đủ. Trường hợp cha, mẹ không kết hôn, Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định người không được coi là cha, mẹ của con có quyền yêu cầu Tòa án xác định con; đồng thời, người được xác định là cha, mẹ của con cũng có quyền yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ cha, mẹ, con. Như vậy, khi không có sự tự nguyện thừa nhận, các bên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ, con dựa trên chứng cứ khoa học như kết quả xét nghiệm ADN hoặc các tài liệu chứng minh quan hệ huyết thống.

Đối với trường hợp hỗ trợ sinh sản, Điều 93 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định con sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được xác định là con chung của vợ chồng, kể cả khi người vợ không mang thai hộ hoặc sử dụng tinh trùng, noãn của người khác. Quy định này bảo đảm quyền lợi của trẻ em sinh ra từ phương pháp khoa học, đồng thời xác lập trách nhiệm pháp lý của cha, mẹ theo ý chí tự nguyện.

Ví dụ thực tiễn: Anh A và chị B chung sống như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn, sinh được cháu C. Nếu anh A không thừa nhận cháu C là con, chị B có quyền yêu cầu Tòa án xác định anh A là cha của cháu C theo Điều 89. Khi có bản án có hiệu lực pháp luật, anh A phát sinh đầy đủ quyền và nghĩa vụ của cha đối với con, bao gồm nghĩa vụ cấp dưỡng và quyền thăm nom, chăm sóc con.

4. Xác định con trong hôn nhân

Xác định con trong hôn nhân là việc xác lập quan hệ cha, mẹ, con giữa người con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân với vợ chồng. Theo khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân được xác định là con chung của vợ chồng. Thời kỳ hôn nhân được tính từ khi đăng ký kết hôn đến khi chấm dứt quan hệ hôn nhân do ly hôn, một bên chết hoặc bị tuyên bố là đã chết. Như vậy, pháp luật áp dụng nguyên tắc suy đoán pháp lý: người chồng được coi là cha của đứa trẻ do người vợ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân mà không cần chứng minh quan hệ huyết thống.

Khoản 2 Điều 88 quy định trường hợp con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn nhưng được cha mẹ thừa nhận thì vẫn được xác định là con chung của vợ chồng. Ví dụ, anh A và chị B chung sống, chị B sinh con vào tháng 3/2024, đến tháng 6/2024 hai người mới đăng ký kết hôn và cùng thừa nhận đứa trẻ là con chung. Trong trường hợp này, đứa trẻ được xác định là con chung của anh A và chị B theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 88.

Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về quyền và nghĩa vụ của người được xác định là cha, mẹ, con. Theo đó, người không được xác định là cha, mẹ của con có quyền yêu cầu Tòa án xác định con; người được xác định là cha, mẹ của con có quyền yêu cầu Tòa án xác định con không phải là con mình. Đây là cơ chế pháp lý để bảo vệ quyền lợi của các bên khi có tranh chấp về quan hệ cha, mẹ, con, đồng thời bảo đảm quyền được biết cha, mẹ của trẻ em.

Đối với trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, Điều 93 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 xác định: con sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng, kể cả khi người con được sinh ra từ noãn hoặc tinh trùng của người hiến tặng. Quy định này bảo đảm quyền lợi của trẻ em sinh ra từ phương pháp hỗ trợ sinh sản, không phân biệt nguồn gốc sinh học của phôi thai.

5. Thủ tục nhận cha, mẹ, con

Thủ tục nhận cha, mẹ, con được thực hiện trên cơ sở tự nguyện và tuân theo quy định tại Điều 88, Điều 89 và Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo khoản 2 Điều 88, trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định. Ngược lại, khi cha, mẹ tự nguyện thừa nhận con, việc đăng ký nhận cha, mẹ, con được thực hiện tại cơ quan đăng ký hộ tịch theo thủ tục hành chính.

Về trình tự, người có yêu cầu nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con. Hồ sơ gồm tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con, giấy tờ tùy thân của các bên và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con, mẹ con. Chứng cứ có thể là kết quả giám định ADN, thư từ, hình ảnh, dữ liệu điện tử thể hiện mối quan hệ, hoặc lời khai của người làm chứng. Khi hồ sơ hợp lệ và không có tranh chấp, cơ quan hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch và cấp trích lục đăng ký nhận cha, mẹ, con.

Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định trường hợp đặc thù: con sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được xác định cha, mẹ theo nguyên tắc người vợ và người chồng đã cùng thực hiện kỹ thuật này là cha, mẹ của con, kể cả khi con sinh ra sau khi người chồng chết. Ví dụ, vợ chồng anh A, chị B thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm; con sinh ra được xác định là con chung của cả hai, không phụ thuộc yếu tố di truyền từ người cho tinh trùng hoặc noãn.

Trường hợp có tranh chấp về xác định cha, mẹ, con, thủ tục được giải quyết theo con đường tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét chứng cứ, bao gồm cả kết quả giám định gen, để ra quyết định công nhận hoặc bác bỏ quan hệ cha con, mẹ con. Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật là căn cứ để cơ quan hộ tịch ghi chú vào Sổ hộ tịch, bảo đảm quyền nhân thân của các bên liên quan.

6. Lưu ý về xác định cha mẹ trong trường hợp hỗ trợ sinh sản

Trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, việc xác định cha, mẹ, con không áp dụng nguyên tắc huyết thống thông thường quy định tại Điều 88 và Điều 89 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, mà tuân theo cơ chế riêng tại Điều 93 của Luật này.

Theo khoản 1 Điều 93, trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88. Theo đó, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân được xác định là con chung của vợ chồng. Người chồng đương nhiên được xác định là cha của đứa trẻ, kể cả khi đứa trẻ được sinh ra từ tinh trùng của người hiến tặng, miễn là người chồng đã đồng ý bằng văn bản cho vợ thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

Khoản 2 Điều 93 quy định trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra. Pháp luật không đặt ra yêu cầu xác định cha trong trường hợp này, bởi người hiến tinh trùng không có quan hệ cha con pháp lý với đứa trẻ.

Điểm đáng lưu ý là khoản 3 Điều 93 quy định việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người sinh ra và người có hành vi hiến tinh trùng, hiến noãn, hiến phôi. Ví dụ, anh A hiến tinh trùng cho cặp vợ chồng B – C thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm. Đứa trẻ sinh ra là con hợp pháp của B và C; anh A không có bất kỳ quyền, nghĩa vụ nào của cha đối với đứa trẻ, đồng thời đứa trẻ cũng không có quyền thừa kế hay yêu cầu cấp dưỡng đối với anh A.

Ngoài ra, cần lưu ý rằng người chồng không có quyền yêu cầu xác định lại quan hệ cha con theo Điều 89 nếu trước đó đã tự nguyện đồng ý cho vợ thực hiện hỗ trợ sinh sản, trừ trường hợp chứng minh được có sự gian dối trong quá trình thực hiện kỹ thuật này. Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của trẻ em và sự ổn định của quan hệ gia đình.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (52/2014/QH13) - Điều 88 về xác định cha, mẹ
  • Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (52/2014/QH13) - Điều 89 về xác định con
  • Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (52/2014/QH13) - Điều 93 về xác định cha mẹ trong trường hợp hỗ trợ sinh sản
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp