Điều 8 BLHS 2015: Khái niệm tội phạm | Công ty Luật Minh Bạch

Điều 8 BLHS 2015: Khái niệm tội phạm

Hình sự · Công ty Luật Minh Bạch · Cập nhật 2026/09
Mục lục:
  1. Nội dung Điều 8 BLHS 2015
  2. Khái niệm tội phạm theo pháp luật hình sự
  3. Các dấu hiệu cơ bản của tội phạm
  4. Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi
  5. Tính có lỗi của chủ thể
  6. Phân biệt tội phạm với vi phạm hành chính

Điều 8. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân Khi tiến hành tố tụng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết.

Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch

1. Nội dung Điều 8 BLHS 2015

Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015 quy định khái niệm tội phạm như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.”

Khái niệm này thể hiện bốn dấu hiệu cơ bản của tội phạm. Thứ nhất, tính nguy hiểm cho xã hội: hành vi phải gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Thứ hai, tính có lỗi: hành vi được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý hoặc vô ý. Thứ ba, tính trái pháp luật hình sự: hành vi phải được quy định trong Bộ luật Hình sự. Thứ tư, tính phải chịu hình phạt: hành vi phải bị xử lý bằng biện pháp hình sự.

Ví dụ thực tiễn: Hành vi trộm cắp tài sản trị giá 3.000.000 đồng của một người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự là tội phạm theo Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, vì thỏa mãn đủ bốn dấu hiệu nêu trên. Ngược lại, hành vi trộm cắp tài sản trị giá 1.500.000 đồng nhưng người thực hiện chưa gây án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt thì không cấu thành tội phạm, chỉ bị xử phạt hành chính theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP.

Điều 8 có mối liên hệ chặt chẽ với Điều 2 Bộ luật Hình sự 2015 về cơ sở của trách nhiệm hình sự: chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Đồng thời, khái niệm tội phạm tại Điều 8 là tiền đề để áp dụng Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 về phân loại tội phạm thành bốn loại: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi.

2. Khái niệm tội phạm theo pháp luật hình sự

Khái niệm tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Từ định nghĩa trên, khái niệm tội phạm có bốn dấu hiệu pháp lý cơ bản. Thứ nhất, tính nguy hiểm cho xã hội: hành vi phải gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Thứ hai, tính có lỗi: người thực hiện hành vi phải có lỗi cố ý hoặc vô ý theo quy định tại Điều 10 và Điều 11 Bộ luật Hình sự. Thứ ba, tính trái pháp luật hình sự: hành vi phải được quy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự, thể hiện nguyên tắc không có tội phạm nếu không có luật quy định. Thứ tư, tính phải chịu hình phạt: hành vi phạm tội phải bị đe dọa áp dụng hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Ví dụ thực tiễn: hành vi trộm cắp tài sản trị giá 3.000.000 đồng của một người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự và bị đe dọa áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù. Hành vi này hội tụ đầy đủ bốn dấu hiệu nêu trên nên được xác định là tội phạm.

Việc xác định một hành vi có phải là tội phạm hay không có ý nghĩa quan trọng, bởi theo Điều 2 Bộ luật Hình sự, chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Đồng thời, Điều 9 Bộ luật Hình sự phân loại tội phạm thành bốn loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, làm cơ sở xác định khung hình phạt và các chế định pháp lý liên quan.

3. Các dấu hiệu cơ bản của tội phạm

Từ định nghĩa tại Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tội phạm được nhận diện qua bốn dấu hiệu cơ bản sau đây.

Thứ nhất, tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội. Đây là dấu hiệu cốt lõi, phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác. Hành vi phải xâm phạm đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ như độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc; chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức; tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của con người. Ví dụ, hành vi trộm cắp tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng và không thuộc trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì chỉ bị xử phạt hành chính, chưa đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm do tính nguy hiểm chưa đáng kể.

Thứ hai, tính có lỗi. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội phải có lỗi cố ý hoặc vô ý theo quy định tại Điều 10 và Điều 11 Bộ luật Hình sự 2015. Người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong trường hợp không có lỗi, do sự kiện bất ngờ hoặc không nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Thứ ba, tính trái pháp luật hình sự. Hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ bị coi là tội phạm khi được quy định trong Bộ luật Hình sự. Nguyên tắc pháp chế hình sự tại Điều 2 Bộ luật Hình sự 2015 khẳng định: chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Không áp dụng tương tự pháp luật để xử lý hành vi không được luật hình sự quy định là tội phạm.

Thứ tư, tính phải chịu hình phạt. Tội phạm là hành vi mà người thực hiện phải chịu hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự. Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, chỉ áp dụng đối với người phạm tội. Việc phân loại tội phạm tại Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 thành bốn loại: ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng chính là dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và mức cao nhất của khung hình phạt.

Bốn dấu hiệu trên có mối quan hệ thống nhất, là cơ sở để xác định tội phạm và phân biệt với vi phạm hành chính, vi phạm dân sự, đồng thời bảo đảm nguyên tắc không làm oan người vô tội trong quá trình tố tụng hình sự.

4. Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi

Tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu nội dung cơ bản, quyết định bản chất của tội phạm và phân biệt tội phạm với các vi phạm pháp luật khác. Theo khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ.

Tính nguy hiểm cho xã hội thể hiện ở chỗ hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho các quan hệ xã hội quan trọng như độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của con người. Mức độ nguy hiểm được xác định thông qua nhiều yếu tố như tính chất của quan hệ xã hội bị xâm phạm, tính chất và mức độ thiệt hại gây ra, phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện phạm tội, hình thức lỗi, động cơ, mục đích và nhân thân người phạm tội.

Ví dụ, hành vi trộm cắp tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm thì cấu thành tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự. Trường hợp này, tính nguy hiểm cho xã hội không chỉ nằm ở giá trị tài sản bị chiếm đoạt mà còn ở thái độ coi thường pháp luật, tái phạm của người thực hiện hành vi.

Tính nguy hiểm cho xã hội là căn cứ để phân loại tội phạm theo Điều 9 Bộ luật Hình sự thành bốn loại: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc phân loại này dựa trên mức cao nhất của khung hình phạt, phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng loại tội phạm. Đồng thời, theo Điều 2 Bộ luật Hình sự, chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự, bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong việc xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội.

5. Tính có lỗi của chủ thể

Tính có lỗi của chủ thể là dấu hiệu bắt buộc trong khái niệm tội phạm theo Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Theo khoản 1 Điều 8, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý. Như vậy, chỉ khi hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý thì mới cấu thành tội phạm; trường hợp không có lỗi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Lỗi là thái độ tâm lý của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra, được biểu hiện dưới hai hình thức: lỗi cố ý và lỗi vô ý. Lỗi cố ý bao gồm cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp; lỗi vô ý bao gồm vô ý do quá tự tin và vô ý do cẩu thả. Việc xác định hình thức lỗi có ý nghĩa quan trọng trong định tội, quyết định hình phạt và phân loại tội phạm theo Điều 9 Bộ luật Hình sự 2015.

Nguyên tắc có lỗi được củng cố bởi Điều 2 Bộ luật Hình sự 2015 về cơ sở của trách nhiệm hình sự: chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Điều này đòi hỏi hành vi phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm, trong đó có yếu tố lỗi.

Ví dụ thực tiễn: A dùng dao đâm B dẫn đến B tử vong. Nếu A có ý định tước đoạt tính mạng B, A phạm tội giết người với lỗi cố ý trực tiếp. Nếu A chỉ muốn gây thương tích nhưng vô ý làm B chết, A phạm tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người. Nếu A vô ý làm súng cướp cò bắn chết B, A phạm tội vô ý làm chết người. Sự khác biệt về lỗi dẫn đến tội danh và khung hình phạt khác nhau, thể hiện rõ vai trò của tính có lỗi trong việc xác định trách nhiệm hình sự.

6. Phân biệt tội phạm với vi phạm hành chính

Việc phân biệt tội phạm với vi phạm hành chính có ý nghĩa nền tảng trong việc xác định trách nhiệm pháp lý và thẩm quyền xử lý. Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) định nghĩa tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Trong khi đó, vi phạm hành chính là hành vi có lỗi, xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước nhưng mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn, chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tiêu chí phân biệt cốt lõi nằm ở tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Khoản 2 Điều 8 Bộ luật Hình sự quy định rõ: những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và bị xử lý bằng biện pháp khác. Điều 2 Bộ luật Hình sự cũng xác định chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự, khẳng định nguyên tắc tội phạm phải được luật hình sự quy định cụ thể.

Ví dụ thực tiễn: hành vi trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng và không thuộc các trường hợp định khung tại Điều 173 Bộ luật Hình sự thì chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự. Cùng là hành vi trộm cắp, nhưng nếu giá trị tài sản từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 thì người thực hiện bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Sự khác biệt không nằm ở bản chất hành vi mà ở mức độ định lượng được pháp luật quy định.

Hệ quả pháp lý của hai loại vi phạm cũng khác biệt căn bản. Tội phạm dẫn đến trách nhiệm hình sự với các hình phạt nghiêm khắc như cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, tù chung thân; được phân loại theo Điều 9 Bộ luật Hình sự thành tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Vi phạm hành chính chỉ dẫn đến các biện pháp xử phạt như cảnh cáo, phạt tiền, tước quyền sử dụng giấy phép. Việc xác định đúng ranh giới này bảo đảm nguyên tắc không xử lý hình sự đối với hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, tránh oan sai và bảo vệ quyền con người.

Lưu ý khi áp dụng

Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:

  • Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) - Điều 8 về khái niệm tội phạm
  • Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) - Điều 9 về phân loại tội phạm
  • Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) - Điều 2 về cơ sở của trách nhiệm hình sự
Bài viết mang tính tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý chính thức. Vụ việc của bạn cần được luật sư đánh giá trên hồ sơ cụ thể. Gửi thông tin vụ việc tại đây hoặc gọi 0987 892 333.

Đang gặp tranh chấp đất đai?

Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.

Gửi thông tin vụ việc Gọi 0987 892 333
📞 💬 WhatsApp