Điều 69. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ 1. Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội. 2. Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. 3. Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự. 4. Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Nguồn: Toàn văn điều luật — Luật Minh Bạch
Điều 69 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định nghĩa vụ và quyền của cha mẹ. Theo khoản 1, cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức. Khoản 2 xác định cha mẹ có nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Khoản 3 ghi nhận cha mẹ là người giám hộ đương nhiên của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự. Khoản 4 quy định cha mẹ không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới tính hoặc tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Điều 70 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định quyền và nghĩa vụ của con. Khoản 1 nêu con có quyền được cha mẹ thương yêu, tôn trọng, thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật; được học tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức. Khoản 2 quy định con có nghĩa vụ kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ; có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật. Khoản 3 nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ.
Ví dụ thực tiễn: cha mẹ ly hôn, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải cấp dưỡng và có quyền thăm nom con theo Điều 69; con đã thành niên có thu nhập nhưng bỏ mặc cha mẹ già yếu, ốm đau thì vi phạm nghĩa vụ tại khoản 2 Điều 70. Điều 71 cụ thể hóa nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng giữa cha mẹ và con, tạo cơ sở áp dụng thống nhất hai điều luật trên.
Điều 69 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con theo hai nhóm nội dung chính. Khoản 1 xác định cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội. Khoản 2 quy định cha mẹ có nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Nội dung này được cụ thể hóa tại Điều 71 về chăm sóc, nuôi dưỡng. Theo đó, cha mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Con có quyền được cha mẹ thương yêu, tôn trọng; được học tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức theo Điều 70.
Ví dụ thực tiễn: khi vợ chồng ly hôn, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên theo quy định tại Điều 82 và Điều 110 của Luật này. Việc vi phạm nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con có thể dẫn đến hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên theo Điều 85, hoặc bị xử lý theo quy định pháp luật khác nếu gây hậu quả nghiêm trọng.
Như vậy, nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con không chỉ mang tính đạo đức mà còn là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc, gắn liền với trách nhiệm bảo vệ quyền trẻ em và bảo đảm sự phát triển toàn diện của con.
Trong mối quan hệ giữa cha mẹ và con, pháp luật không chỉ quy định nghĩa vụ, quyền của cha mẹ đối với con mà còn ghi nhận rõ quyền và nghĩa vụ của con đối với cha mẹ. Đây là sự thể hiện nguyên tắc các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau theo khoản 3 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Theo Điều 70 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, con có quyền được cha mẹ thương yêu, tôn trọng, thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật; được học tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức. Đồng thời, con có nghĩa vụ yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ; có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật. Trường hợp gia đình có nhiều con, các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.
Nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng của con đối với cha mẹ được cụ thể hóa tại Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Theo đó, con đã thành niên không sống chung với cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ khi cha mẹ không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Ví dụ, người con đã lập gia đình riêng, có thu nhập ổn định, trong khi cha mẹ già yếu, không còn khả năng lao động và không có lương hưu thì người con đó phải có trách nhiệm cấp dưỡng hằng tháng để bảo đảm cuộc sống cho cha mẹ.
Quy định này có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, vừa bảo vệ quyền lợi chính đáng của cha mẹ khi về già, vừa giáo dục truyền thống hiếu thảo, kế thừa đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Việc con không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, cấp dưỡng cha mẹ có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm.
Khoản 1 Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định cha mẹ có nghĩa vụ và quyền "thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức". Khoản 2 Điều 69 tiếp tục xác định cha mẹ có nghĩa vụ "trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình". Đây là nghĩa vụ pháp lý mang tính bắt buộc, gắn liền với tư cách cha mẹ, không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ.
Ở chiều ngược lại, Điều 70 ghi nhận con có quyền được cha mẹ thương yêu, tôn trọng; được học tập, giáo dục, phát triển lành mạnh; đồng thời con có nghĩa vụ "yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ". Như vậy, chăm sóc, nuôi dưỡng là quan hệ hai chiều: cha mẹ thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng con chưa thành niên; con đã thành niên có nghĩa vụ phụng dưỡng cha mẹ khi cha mẹ già yếu, không còn khả năng lao động.
Điều 71 cụ thể hóa nguyên tắc chung nêu trên. Khoản 1 quy định cha mẹ có nghĩa vụ và quyền "cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình". Khoản 2 nhấn mạnh con có nghĩa vụ và quyền "chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật".
Ví dụ thực tiễn: khi vợ chồng ly hôn, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải cấp dưỡng theo quy định tại Điều 82 và Điều 110 của Luật này; việc từ chối cấp dưỡng có thể bị cưỡng chế thi hành án. Tương tự, con đã thành niên không được viện lý do kinh tế khó khăn để từ chối phụng dưỡng cha mẹ già yếu, trừ trường hợp bản thân không có khả năng thực hiện nghĩa vụ.
Trong quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con, nghĩa vụ giáo dục con được xác lập là một trong những nội dung cốt lõi thuộc nghĩa vụ và quyền của cha mẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo đó, cha mẹ có nghĩa vụ và quyền “trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”. Nội hàm giáo dục con được cụ thể hóa tại khoản 2 Điều 69: cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo việc học tập và tạo điều kiện để con phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, đạo đức; đồng thời phải giáo dục con trở thành công dân có ích cho xã hội, tôn trọng pháp luật và thuần phong mỹ tục của dân tộc.
Nghĩa vụ giáo dục con không chỉ dừng lại ở việc bảo đảm điều kiện học tập mà còn bao hàm trách nhiệm định hướng nhân cách, đạo đức, lối sống cho con. Quy định này có mối liên hệ chặt chẽ với khoản 2 Điều 70, theo đó con có quyền được cha mẹ thương yêu, tôn trọng, được học tập và giáo dục, phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức. Như vậy, nghĩa vụ giáo dục của cha mẹ tương ứng với quyền được giáo dục của con, tạo thành cơ chế bảo đảm quyền lợi hai chiều trong quan hệ cha mẹ – con. Ngoài ra, Điều 71 về chăm sóc, nuôi dưỡng còn bổ sung trách nhiệm của cha mẹ trong việc tạo môi trường sống, học tập an toàn, lành mạnh cho con.
Ví dụ thực tiễn: cha mẹ ly hôn, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải thực hiện nghĩa vụ giáo dục con thông qua việc đóng góp chi phí học tập, phối hợp với người trực tiếp nuôi dưỡng trong định hướng giáo dục. Việc bỏ mặc, không tạo điều kiện cho con đến trường hoặc cản trở quyền học tập của con có thể bị coi là vi phạm nghĩa vụ giáo dục con theo quy định của Luật này và các văn bản pháp luật liên quan về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
Điều 75 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định con có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và thu nhập hợp pháp khác. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của con cũng là tài sản riêng của con.
Trong mối liên hệ với Điều 69 và Điều 70, quyền có tài sản riêng của con đặt ra giới hạn đối với quyền quản lý tài sản của cha mẹ. Theo khoản 2 Điều 70, con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng. Con từ đủ 09 tuổi đến dưới 15 tuổi có tài sản riêng phải do cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý, trừ trường hợp cha mẹ hoặc người giám hộ đồng ý để con tự quản lý. Con dưới 09 tuổi thì tài sản riêng do cha mẹ quản lý. Cha mẹ không được quản lý tài sản riêng của con trong trường hợp con đang được người khác giám hộ theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Điều 76 quy định cha mẹ quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự. Cha mẹ có quyền định đoạt tài sản riêng của con dưới 15 tuổi vì lợi ích của con, trừ trường hợp con từ đủ 09 tuổi trở lên phải có sự đồng ý của con. Cha mẹ không được định đoạt tài sản riêng của con nếu việc định đoạt không vì lợi ích của con. Ví dụ: cha mẹ ly hôn, người trực tiếp nuôi con không được tự ý bán mảnh đất do ông bà tặng cho riêng cháu để trả nợ cá nhân; việc bán chỉ hợp pháp khi chứng minh được vì lợi ích của con và có sự đồng ý của con nếu con từ đủ 09 tuổi.
Về nghĩa vụ của con, khoản 2 Điều 70 quy định con có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình; đóng góp thu nhập vào việc đáp ứng nhu cầu của gia đình phù hợp với khả năng. Nghĩa vụ này không làm mất đi quyền có tài sản riêng của con. Thu nhập do con lao động tạo ra vẫn thuộc tài sản riêng của con; con chỉ có nghĩa vụ đóng góp phù hợp với khả năng, không bị cha mẹ chiếm dụng toàn bộ thu nhập.
Như vậy, quyền có tài sản riêng của con là quyền độc lập, được pháp luật bảo vệ. Cha mẹ chỉ quản lý, định đoạt tài sản riêng của con trong phạm vi pháp luật cho phép và vì lợi ích của con. Mọi hành vi xâm phạm tài sản riêng của con đều có thể bị xử lý theo quy định pháp luật dân sự.
Bài viết dựa trên quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật, bao gồm:
Gửi thông tin vụ việc — Luật sư đánh giá và tư vấn hướng xử lý.